Chiều hai mươi chín tháng Chạp, bốn giờ, nghĩa trang Bình Hưng Hòa.
Ông Bảy Đường mở cổng cho tụi tôi vô. Ông không hỏi gì. Tôi có nói với ông từ tuần trước rằng tối nay có mấy người quen tới mượn cái nhà chờ, ông nói ờ, ở đó bỏ không mà.
Cái nhà chờ hỏa táng cũ, tám mét trên mười lăm, mái tôn, tường gạch không tô, nền xi măng.
Tụi tôi dọn từ hai giờ chiều.
Hùng "sắt" với hai thằng bạn phụ hồ của nó quét dọn, hốt được bốn bao rác. Anh Dũng chở tới hai bình nước hai chục lít. Ông Tư Bền kéo một đường dây điện từ chòi bảo vệ vô, gắn hai bóng đèn, đấu dây bằng cái kiểu chỉ thợ điện mới làm được, quấn băng keo ba lớp.
"Cái này để dọn thôi nghen." Bà Tư Lành nói. "Tới giờ là tắt hết. Đèn điện với đèn dầu không đi chung được."
Bốn giờ rưỡi, người ta bắt đầu tới đông.
Chị Ngọc tới với chồng, chở theo một thùng xốp.
"Chị nấu ở nhà rồi." Chị nói. "Tại chị nghĩ tối nay mấy người ngồi đây tới sáng, không có gì ăn thì đói."
Trong thùng xốp có một nồi thịt kho hột vịt, một hộp dưa giá, và hai chục cái bánh chưng nhỏ chị đặt mua ở chợ.
Cô Bảy Xíu tới với chồng, đẩy nguyên cái xe hủ tiếu gõ vô tận cổng, tại vì cô nói đêm giao thừa mà không có gì nóng thì lạnh bụng.
Bà Hai Cẩm tới sớm nhứt, từ ba giờ, và bà đi thẳng ra khu B dãy mười bốn thăm mộ chồng bà, rồi bà mới vô.
Bé Quyên dắt má nó tới lúc năm giờ. Chị Loan mặc áo mới, tóc chải, và chị đi theo con nhỏ ngoan lắm, cầm tay nó.
"Út Sáu, mình vô đây nè má."
"Ơi."
Ông Sáu Nhàn tới với vợ. Thảo tới với má nó, bà mới từ Bến Tre lên hồi trưa. Hùng "sắt" thì má nó không lên được, mà nó gọi video, và bà ngồi trong màn hình điện thoại ở dưới Trà Vinh, và tối nay tới giờ thì nó sẽ để điện thoại cạnh chiếu.
"Vậy có được hông dì?" Nó hỏi bà Tư Lành.
"Không được." Bà nói. "Phải có người đứng đó."
Nó xịu mặt.
"Mà thôi." Bà nói. "Tao đứng gọi cho mày, tao gọi được hai người."
"Dì nói người thắp không kiêm người đợi mà dì."
Bà Tư Lành nhìn tôi.
"Ừ." Bà nói. "Tao nói vậy."
Sáu giờ, trời sập tối.
Tụi tôi kê hai cái băng ghế gỗ lại thành bàn, trải một tấm bạt lên, và dọn cơm.
Hăm bảy người ngồi ăn trong cái nhà chờ hỏa táng bỏ không đó, đêm hai mươi chín tháng Chạp, dưới hai bóng đèn kéo tạm từ chòi bảo vệ.
Ông Bảy Đường ngồi ăn cùng.
Ông ngồi ở đầu bàn, cạnh thằng Hùng, và ông ăn khỏe. Ông khen thịt kho ngon, hỏi chị Ngọc kho bao lâu, chị nói năm tiếng, ông nói phải rồi, kho ít lửa mới thấm.
Không ai nói gì về chuyện tối nay.
Cái đó không phải giao hẹn. Không ai bàn với nhau. Mà suốt bữa cơm đó, hai tiếng đồng hồ, không ai nhắc một chữ nào tới đêm mùng hai tháng Sáu năm hai ngàn hai mươi hai, tới cái xe giường nằm, tới mười hai người chết.
Người ta nói chuyện giá thịt. Nói chuyện năm nay Tết muộn. Nói chuyện con nhỏ Quyên học lớp mười trường nào, nó nói trường Bình Tân, chị Ngọc nói ờ trường đó được.
Chồng cô Bảy Xíu kể chuyện ông đi làm phụ hồ hồi trẻ, kể tới đoạn nào cũng ngọng chữ r, và cả bàn cười, và ông cũng cười.
Thảo với bé Quyên ngồi cạnh nhau, hai đứa chụm đầu coi điện thoại.
Thư ngồi cạnh tôi. Cô đi làm về, còn đem theo cái túi có bộ đồ blouse.
"Ăn đi anh."
"Ừ."
"Anh không ăn từ trưa."
Tôi ăn.
Chừng bảy giờ rưỡi, ngoài kia bắt đầu có tiếng pháo. Không phải pháo hoa, còn sớm. Là mấy nhà đốt phong pháo điện tử, cái loại kêu lẹt đẹt.
Bà Tư Lành ngồi ở góc, không ăn nhiều. Bà ngồi lau cây đèn dầu bằng giấy báo, lau đi lau lại, lau tới lúc cái bóng nó trong veo.
Tôi qua ngồi cạnh bà.
"Dì ăn chút đi dì."
"Tao no."
Bà soi cái bóng đèn lên ánh sáng, thấy còn một vệt, lau lại chỗ đó.
"Ba mươi mốt năm." Bà nói. "Tối nay là cái phiên khó nhứt tao làm."
"Dì làm được hông dì?"
"Được." Bà nói. "Có điều tao chưa gọi cùng lúc mười một người bao giờ."
Bà đặt cái bóng xuống đùi.
"Với lại chưa chắc mười một."
Tám giờ, người ta dọn bàn.
Chị Ngọc rửa nồi bằng nước trong bình hai chục lít. Ông Tư Bền đi coi lại mấy mối dây điện. Hùng "sắt" với hai thằng bạn khiêng mấy cái băng ghế xếp vô góc.
Rồi tụi tôi trải chiếu.
Mười một manh, trải thành hai hàng dọc theo chiều dài nhà chờ, cách nhau một thước. Manh nào cũng là chiếu cói, mép nào cũng có chỉ thêu tên, và bà Tư Lành đã thêu suốt hai tuần cuối, thêu mười một cái tên bằng chỉ đỏ.
Manh thứ mười một trải ở cuối hàng bên phải.
Trên mép nó, bà thêu ba chữ: Phạm Anh Diệp.
Tám giờ rưỡi, tôi ra ngồi ở bậc cửa nhà chờ.
Ngoài kia tối. Xa xa, phía đường lớn, có ánh đèn với tiếng xe. Trong nghĩa trang thì im, im tới mức nghe được tiếng lá khô rớt xuống mấy tấm bia.
Thư ra ngồi cạnh tôi.
"Bả không tới đâu." Tôi nói.
"Chưa tới mười một giờ."
"Ừ."
Tụi tôi ngồi im chừng mười phút.
"Anh Hạ."
"Ừ."
"Nếu bả không tới thì mình vẫn làm chớ?"
Tôi ngồi nhìn cái nhà chờ có mười một manh chiếu trải sẵn.
"Không." Tôi nói. "Thiếu một cái là thiếu hết. Làm thì mười cái kia rớt ra hết, thành hàng lạc, rải đầy thành phố."
"Vậy mười người kia?"
"Thì về ăn Tết."
Thư ngồi im.
"Rồi anh?"
Tôi không trả lời câu đó, tại vì lúc đó ngoài cổng có ánh đèn xe quét ngang hàng rào.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 69 →