Bà Chín Xoài mất lúc bốn giờ hai mươi chiều thứ Tư, hai mươi mốt tháng Một.
Tôi không có mặt.
Chiều đó tôi ở Bình Chánh, ở nhà cô Bảy Xíu, ngồi nói chuyện với chồng cô về chuyện gọi tên. Ông ngọng chữ r thiệt. Ông tập với tôi ba lần, tập gọi Phạm Thị Xíu, và tới lần thứ ba thì ông gọi được trơn.
Thư gọi cho tôi lúc bốn giờ hai mươi lăm.
Tôi chạy vô tới nơi lúc năm giờ mười.
Người ta đã kéo tấm ri-đô quanh giường. Trong đó có hai điều dưỡng đang làm việc của họ, làm nhẹ nhàng, làm gọn.
Thư đứng ngoài, còn mặc áo blouse.
"Anh vô được rồi."
Tôi vén ri-đô.
Bà nằm ngửa, hai tay đặt xuôi. Người ta đã rút ống. Mặt bà không có gì khác lắm so với tám tháng nay, chỉ có cái là bên phải với bên trái giờ giống nhau.
Tôi đứng đó chừng năm phút.
Rồi tôi ngồi xuống cái ghế nhựa, cái ghế tôi ngồi tám tháng nay, và tôi ngồi cho tới lúc người ta kêu tôi đi làm giấy tờ.
Ở phòng hành chính, người ta hỏi tôi quan hệ với người mất.
Lần này tôi trả lời được.
"Dạ con là cháu."
Cô nhân viên ghi vô ô "quan hệ": cháu.
Rồi cô hỏi họ tên người khai. Tôi đọc. Cô hỏi căn cước. Tôi đưa.
Cô đối chiếu hai cái tên, một cái là Trần Thị Xoài, một cái là Lê Quang Hạ, khác họ, và cô ngước lên nhìn tôi.
Rồi cô không hỏi gì thêm. Cô ghi.
Đám bà làm ở hẻm 212.
Anh Bảy sửa xe dọn cái tiệm ra để lấy chỗ đặt quan tài, dọn hết đồ nghề vô trong nhà. Chị bán bánh mì với mấy bà trong hẻm lo bếp. Người ta mượn rạp của nhà đám gần đó, dựng che nguyên khúc hẻm.
Bàn thờ đặt ngay chỗ bà bán cháo mười mấy năm, chỗ khúc cua đầu hẻm.
Hình bà là hình thẻ chụp năm hai ngàn mười bảy, phóng lớn ra nên rỗ. Bà không cười, tại vì hình thẻ thì người ta không cho cười.
Tôi đứng ở đó ba ngày.
Khách tới nhiều hơn tôi tưởng nhiều. Ba ngày đó tôi mới biết bà Chín có bao nhiêu người quen: mấy bà bạn hàng ở chợ, mấy ông xe ôm đầu đường, cô giáo cấp một nhà số 30 mà bà cho ăn cháo thiếu suốt hồi mới ra trường, một ông chạy ba gác ở tận Q.8 mà mười mấy năm trước bà cho mượn tiền chữa bệnh.
Ai tới cũng kể một chuyện.
Tôi đứng cạnh bàn thờ ba ngày và tôi nghe chừng hai chục cái chuyện về một người mà tôi ăn cháo của bà sáu năm.
Không có chuyện nào tôi biết.
Ngày thứ hai, có một bà cụ tới, chống gậy, chừng tám mươi. Bà ngồi xuống ghế, thắp nhang, rồi bà quay qua tôi.
"Con là thằng Hạ hả?"
"Dạ."
"Ờ." Bà nói. "Bả kể tao nghe rồi. Cái thằng ở trên gác đó."
Tôi ngồi xuống cái ghế cạnh bà.
"Dì quen dì Chín lâu chưa dì?"
"Từ hồi bả mới lên đây bán. Tám chín." Bà nói. "Tao ở nhà số 8."
Bà cầm cái ly trà, uống một hớp.
"Bả kể tao nghe hoài." Bà nói. "Bả nói thằng nhỏ đó nó làm gì ban đêm tao không biết, mà sáng nào tao gõ cửa nó cũng có nhà."
Tôi ngồi im.
"Bả nói hồi đầu bả kêu nó xuống ăn cháo tại thấy nó ốm nhom." Bà cụ nói. "Sau bả kêu tại vì kêu riết thành quen. Bả nói mấy bữa nào bả bệnh không kêu được thì bả nằm bả cứ lo lo, không biết thằng nhỏ nó có dậy hông."
Tôi ngồi trên cái ghế nhựa dưới rạp đám, mười giờ sáng ngày thứ hai, và tôi ngồi nghe một bà cụ tám mươi tuổi kể cho tôi nghe cái chuyện mà lẽ ra tôi phải là người biết rõ nhứt trên đời.
"Dì kể thêm cho con nghe được không dì?"
"Kể gì con?"
"Kể gì cũng được. Dì kể về dì Chín."
Bà cụ kể tới trưa.
Tôi ngồi nghe hết, và tôi không ghi vô sổ. Tôi ngồi nghe suông, hai tay để trên đùi.
Đưa bà đi ngày mùng ba tháng Chạp, tức hai mươi ba tháng Một.
Thiêu ở Bình Hưng Hòa.
Tôi đứng ở sân nhà lò, và cách đó chừng hai trăm thước, phía sau hai dãy mộ, có cái nhà mái tôn tường gạch không tô mà mười lăm ngày nữa mười người sẽ nằm xuống.
Ông Bảy Đường trực hôm đó. Ông đứng ở chòi kính, thấy đoàn xe vô thì ông mở cổng, giơ tay chào.
Ông không biết tôi là ai. Ba tuần nay tôi ghé bốn lần, ngồi uống trà với ông, và lần nào ông cũng hỏi chú kiếm ai chú.
Xong việc, tôi ra chỗ ông.
"Chú Bảy."
"Ờ. Nhà chú có đám hả chú?"
"Dạ."
"Chia buồn với chú nghen."
Ông rót cho tôi một ly nước trà.
Tôi ngồi trong chòi kính đó chừng nửa tiếng, không nói gì, và ông cũng không hỏi gì. Ông ngồi coi cái tivi nhỏ để trên nóc tủ, đang chiếu một chương trình gì đó về nấu ăn.
Chừng bốn giờ, tôi đứng dậy.
"Con về nghen chú."
"Ờ." Ông nói. "Chú ghé chơi."
Tối đó tôi về phòng, mở tủ, và tôi lấy tờ giấy mười dòng ra.
Dòng số tám tôi đã gạch từ hai mươi bảy tháng Mười một.
Tôi ngồi nhìn cái dòng bị gạch đó một lúc, rồi tôi lấy bút, và tôi viết lại nó xuống dưới, ở khoảng trắng cuối tờ giấy, viết bằng chữ của tôi bây giờ, chữ xấu hơn hồi tháng Tư:
Tám. Bà Chín Xoài, bán cháo lòng ở đầu hẻm 212 từ năm 1989, gõ cửa phòng tôi ba cái, gọi tôi ba tiếng, mỗi sáng sáu giờ, trong sáu năm. Mấy bữa bà bệnh không kêu được thì bà nằm bà lo, không biết tôi có dậy không.
Cái đoạn cuối đó không phải của tôi. Nó là của một bà cụ ở nhà số 8 kể lại cho tôi nghe dưới rạp đám sáng ngày thứ hai.
Tôi vẫn viết vô.
Bây giờ nó là dòng của tôi.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 66 →