Đêm hai mươi tám tháng Một, sau đám ông già, tôi về phòng lúc mười một giờ và tôi nằm xuống.
Tôi về từ đám ông lúc bốn giờ chiều, ngồi ở nhà tới mười một giờ đêm, không ăn gì. Cái đó tôi ghi lại vì hôm sau tôi xỉu ở tiệm sửa xe, và anh Bảy bắt tôi ăn cháo trước mặt anh.
Không ngủ được, như hai tháng nay.
Chừng một giờ sáng, tôi đang nằm ngửa nhìn cái vết ố hình con cá trên trần, thì có một bàn tay vịn vô vai áo tôi từ phía sau.
Tôi ngồi bật dậy.
Trong phòng không có ai. Cửa khóa. Đèn đường hắt qua khe cửa sổ một vệt vàng lên nền gạch.
Tôi ngồi trên giường, tim đập, và tôi chờ.
Bảy năm làm nghề thì tôi quen với chuyện có cái gì đó tới trong lúc mình đang thức. Cái quen đó không làm nó bớt lạ. Nó chỉ làm mình biết ngồi im mà chờ cho hết, y như người ta chờ cho hết một cơn chuột rút.
Nó tới lần nữa, chừng ba mươi giây sau.
Một bàn tay vịn vô vai ghế từ phía sau. Vai ghế bọc nỉ, có chỗ sờn. Rồi có tiếng người ngồi xuống bên cạnh, cái ghế lún xuống, kêu è một tiếng. Mùi người trẻ: mồ hôi, với dầu gội.
Rồi hết.
Tôi ngồi trên giường trong phòng 3, gác lửng, hẻm 212 Nguyễn Trãi, một giờ sáng ngày hai mươi chín tháng Một, và tôi ngồi đó tới sáng.
Không phải vì sợ.
Là vì tôi ngồi đếm lại.
Sáng hôm sau tôi qua đường Trần Hưng Đạo.
Đêm đó tôi ngồi tới sáng, ngồi trên giường, không nằm xuống lại.
Cái tôi ngồi làm là đếm. Tôi đếm coi trong người mình bây giờ có mấy cái không phải của mình, đếm bằng cách gọi tên từng cái ra: mùi dầu gió, cái rát, ly cà phê, cái đồng hồ dạ quang, và bây giờ thêm cái ghế lún xuống kêu è một tiếng.
Ông Chín Tàng đang ngồi ở gốc cây me. Vẫn cái ghế xếp, vẫn cái hộp thiếc treo trên thân cây.
Ông đang hớt cho một ông khách.
Tôi đứng bên kia đường coi chừng mười lăm phút.
Ông hớt xong cái đầu đó. Hớt đều, không lệch. Trong suốt mười lăm phút ông không quay ra sau lưng lần nào.
Ông cũng không biết ông đang làm gì. Vợ ông nói ông ngồi cả ngày, không nhớ bà là ai. Mà tay ông thì vẫn hớt, hớt bốn mươi mốt năm rồi, tay nó nhớ.
Tôi không qua đường. Tôi đứng đó tới lúc ông khách trả tiền rồi tôi đi.
Trưa hôm đó tôi lên Nhà Trọ Giấc.
"Con có cái của ông Chín Tàng."
Bà Tư Lành đang kết sổ. Bà đặt bút xuống.
"Từ hồi nào?"
"Đêm qua. Một giờ sáng."
Bà ngồi tính.
"Ổng cắt hôm hai mươi." Bà nói. "Ổng chết hôm hai mươi ba. Bây nhận hôm hai mươi tám."
"Nó ở đâu trong tám ngày đó hả dì?"
"Ở trong ổng." Bà nói. "Ổng kéo nó qua mình ổng, rồi ổng ôm nó đi. Tới chừng ổng đi rồi thì nó rớt ra."
"Rớt ra rồi nó kiếm ai?"
"Nó kiếm chỗ nào còn trống." Bà nói.
Bà cầm bút lên, ghi tiếp.
"Trong cái thành phố này, đêm hai mươi tám tháng Một, chỗ trống nhứt là bây."
Chiều hai mươi chín tôi qua Q.7.
Quán cơm tấm mới của chị Ngọc nằm trên đường Huỳnh Tấn Phát, mặt bằng rộng gấp ba quán cũ, có bảng hiệu in, có bàn inox.
Quán chưa khai trương. Chị đang lau bàn.
Chị thấy tôi thì chị đứng thẳng lên, và mặt chị đỏ.
"Anh Hạ..."
"Chị đừng lo, em không tới đòi gì hết."
"Chị xin lỗi anh."
"Chị không có gì phải xin lỗi em." Tôi nói. "Chị có hai đứa nhỏ."
Chị đứng đó, cầm cái khăn lau.
Tôi kể chị nghe chuyện ông già trên gác Phạm Đình Hổ.
Tôi kể ngắn, không thêm gì, không nhấn chỗ nào. Kể chuyện ông cắt manh chiếu của ông làm đôi bằng con dao rọc giấy hai chục ngàn. Kể chuyện ông kéo cái mảnh ra khỏi một ông thợ hớt tóc mà ông chưa gặp mặt bao giờ. Kể chuyện ba ngày sau ông chết một mình, và tới lúc chôn thì không ai biết viết tên gì lên tấm bảng.
Kể xong tôi nói:
"Em kể chị nghe vậy thôi. Em về."
Tôi đi ra tới cửa thì chị gọi.
"Anh Hạ."
Tôi quay lại.
"Đêm giao thừa mấy giờ vậy anh?"
Ngày ba mươi tháng Một, bảng của tôi như vầy.
Mười một cái mảnh. Tôi giữ hai: cái của tôi, và cái của ông Chín Tàng.
Vậy là mười người nằm: tôi, chị Loan, Thảo, chị Ngọc, bà Hai Cẩm, cô Bảy Xíu, ông Tư Bền, anh Dũng, Hùng "sắt", ông Sáu Nhàn.
Mười người đợi: Thư, bé Quyên, má Thảo, chồng chị Ngọc, bà Sáu Nga, chồng cô Bảy Xíu, vợ ông Tư Bền, vợ anh Dũng, má thằng Hùng, vợ ông Sáu Nhàn.
Người thắp: bà Tư Lành.
Chỗ: nhà chờ hỏa táng bỏ không, nghĩa trang Bình Hưng Hòa.
Đêm: hai mươi chín tháng Chạp, tức mười sáu tháng Hai.
Còn mười bảy ngày.
Tối đó tôi ngồi ghi cái bảng đó vô cuốn tập, ghi cho ngay ngắn, hai cột, có đánh số.
Ghi xong tôi ngồi coi.
Mười dòng. Cột nào cũng đủ.
Tôi ngồi coi cái bảng đủ đó chừng nửa tiếng, và tôi thấy trong người mình có một cái gì đó không yên.
Tôi không biết đó là cái gì, và tôi ghi lại cái không yên đó vô cuốn tập, ghi đúng một dòng, ghi vì tôi ghi mọi thứ:
30/1. Đủ hết mà thấy thiếu. Không biết thiếu chỗ nào.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 65 →