Ngày hai mươi tháng Một, ông Chín Tàng đi hớt tóc lại.
Tôi biết chuyện đó vì bà bán nước ở gốc cây me nhắn cho tôi. Tôi có để lại số cho bà từ hôm tôi tới tìm ông.
Tôi chạy qua lúc mười giờ sáng.
Ông ngồi trên cái ghế xếp, không hớt cho ai, chỉ ngồi. Cái hộp thiếc treo trên thân cây. Tấm bạt trải dưới đất, sạch, chưa có sợi tóc nào.
"Chú Chín."
Ông ngước lên.
Rồi ông nói:
"Chú kiếm ai chú?"
Tôi đứng đó.
"Con là Hạ. Con tới hớt tóc chú tuần trước. Con với chú nói chuyện về..."
"Ờ ờ." Ông nói. "Chú ngồi đi chú, tui hớt cho."
Ông đứng dậy, cầm cái khăn choàng, phủi.
Tôi ngồi xuống cái ghế.
Ông choàng khăn cho tôi. Rồi ông cầm tông đơ lên, và ông đứng sau lưng tôi, và ông không bắt đầu.
Tôi ngồi chờ chừng mười giây.
"Chú Chín?"
"Ờ."
"Chú hớt đi chú."
"Ờ."
Ông vẫn không bắt đầu.
Tôi tháo khăn ra, đứng dậy, quay lại nhìn ông.
Ông đứng đó, tay phải cầm cái tông đơ, tay trái buông thõng, và ông nhìn cái ghế trống.
"Chú làm nghề gì vậy chú?" Tôi hỏi.
Ông Chín Tàng nhìn cái tông đơ trong tay mình.
"Cái này..." Ông nói. "Cái này để làm gì ta."
Ông già trên gác Phạm Đình Hổ chết ngày hai mươi ba tháng Một.
Người ta phát hiện ngày hai mươi lăm, khi bà chủ nhà dưới lầu thấy ba ngày không nghe tiếng chân trên gác.
Tôi biết tin ngày hai mươi sáu, do thằng Khoa.
Tôi lên căn gác đó chiều hôm ấy.
Trên gác đã dọn. Cái tủ gỗ nhỏ, cái mâm nhôm, mấy cái thau hứng dột, người ta gom ra một góc. Bà chủ nhà nói bà chờ coi có ai tới nhận không, chờ hết tháng bà bỏ.
Manh chiếu vẫn còn trải giữa sàn.
Nó bị cắt làm đôi, cắt theo chiều dọc, đường cắt thẳng, đi hết từ đầu chiếu tới cuối chiếu.
Cạnh đó, trên sàn, có một con dao.
Dao rọc giấy loại lớn, lưỡi mới, còn nguyên lớp dầu ở sống dao. Loại dao người ta bán ở tiệm tạp hóa hai chục ngàn.
Con dao chưa từng cắt thịt sống.
Tôi ngồi xuống sàn gác.
Bà chủ nhà đứng ở đầu cầu thang.
"Ổng có nói gì với dì không dì?"
"Nói gì đâu con." Bà nói. "Ổng ở đây chín năm, ổng có nói với dì tổng cộng chắc hai chục câu."
"Bữa cuối ổng có xuống không dì?"
"Có." Bà nói. "Bữa hai mươi ổng có xuống. Ổng hỏi dì mượn cái điện thoại."
"Ổng gọi cho ai?"
"Dì đâu có coi." Bà nói. "Mà dì nhớ là ổng gọi lâu, chừng mười lăm phút. Gọi xong ổng trả dì, ổng cảm ơn, rồi ổng lên."
Tôi hỏi mượn cái điện thoại của bà.
Trong lịch sử cuộc gọi ngày hai mươi tháng Một, có một số gọi đi lúc mười một giờ bốn mươi, mười bốn phút.
Tôi biết cái số đó. Nó nằm trong cuốn tập của tôi từ tháng Chín.
Số của ông Chín Tàng.
Ngày hai mươi bảy tôi qua nhà ông Chín Tàng.
Vợ ông ra mở cửa. Lần này bà mở hẳn.
"Ổng đỡ chưa dì?"
"Đỡ gì con." Bà nói. "Ổng ngồi cả ngày. Ổng không nhớ tui là ai."
Bà đứng đó, tay vịn cánh cửa.
"Mà con biết chuyện gì lạ hông." Bà nói. "Từ bữa hai mươi mốt tới giờ ổng hết quay ra sau lưng."
Tôi đứng ngoài cửa nhà ông Chín Tàng chiều hai mươi bảy tháng Một, và tôi hiểu ra ông già trên gác đã làm cái gì.
Ông gọi cho ông Chín Tàng, nói chuyện mười bốn phút. Tôi không biết ông nói gì, và tôi sẽ không bao giờ biết.
Rồi ông về, cắt manh chiếu của chính ông làm đôi.
Ông cắt chiếu của ông, không phải chiếu của ông Chín Tàng.
Cái đó tôi phải ngồi nghĩ hai ngày mới ra: cắt chiếu của người ta thì phải có chiếu của người ta. Ông Chín Tàng làm gì có chiếu, ông chỉ là khách bán canh.
Người có chiếu là người nằm.
Ông già cắt chiếu của mình, gọi tên ông Chín Tàng ba tiếng, rồi im tuyệt đối tới sáng.
Ông kéo cái mảnh ra khỏi ông Chín Tàng bằng cách kéo qua mình.
Rồi ông chết ba ngày sau đó, một mình, trên cái gác nóng như lò, cạnh manh chiếu bị cắt làm đôi.
Đám ông làm ngày hai mươi tám tháng Một, do bà chủ nhà với mấy người trong hẻm góp lại.
Có bảy người tới. Tôi, thằng Khoa, bà Tư Lành, bà chủ nhà, hai người hàng xóm, và bà Sáu Nga.
Tới lúc phải viết cái tên lên tấm bảng nhỏ đặt trước quan tài, không ai viết được.
Bà chủ nhà nói ổng ở đây chín năm, hợp đồng thuê nhà ổng ký bằng chữ ký, không có tên. Bà đưa tôi coi. Chữ ký là một nét ngoáy, không đọc ra chữ gì.
Người ta bàn với nhau chừng mười phút.
Cuối cùng bà Tư Lành lấy cây bút lông, và bà viết lên tấm bảng hai chữ, hai chữ mà cả nghề kêu ổng suốt mười hai năm và không ai biết nó bắt đầu từ hồi nào.
Chiếu Cũ.
Rồi bà thắp ba cây nhang, cắm vô lư, và bà đứng đó rất lâu, lâu hơn mọi người.
Tôi đứng cạnh bà.
"Dì biết tên ổng hả dì?"
Bà Tư Lành nhìn tấm bảng.
"Biết." Bà nói.
"Sao dì không viết?"
"Tại vì ổng bỏ nó từ năm mười ba." Bà nói. "Bỏ rồi thì thôi. Mình viết lên đó là mình gọi ổng về, mà gọi về thì về cái gì?"
Bà vái ba vái.
"Với lại." Bà nói. "Cái tên đó bây giờ chỉ còn mình tao nhớ. Tao mà viết ra thì mai mốt tao quên, không còn ai giữ nữa hết."
Ba ký ức tôi đưa ông già để đổi lấy ba câu trả lời, tôi mất luôn hôm đó.
Cái tên con hẻm có cây trứng cá. Cái bến xe An Sương chiều tháng Tám năm mười sáu.
Và cái dĩa dưa leo bông xanh trên bàn ăn nhà tôi ở Đức Huệ, tháng Mười một năm hai ngàn mười lăm, bữa cơm cuối cùng tôi ngồi ăn với mẹ tôi.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 64 →