Cái sân xi măng có lu nước mẻ vành, tôi hết vô đó từ đầu tháng Mười một, sau khi tôi đưa cô Thắm ba mươi tám triệu và cô ký giấy đặt cọc với nhà nghĩa trang.
Mấy cái này không có giờ giấc gì hết. Nó tới vô canh nào cũng được, mà lần nào cũng đúng vô lúc trong phiên tôi trống nhứt.
Tôi tưởng vậy là xong.
Đêm mùng bảy tháng Mười hai, nó đổi chỗ.
Lần này không phải cái sân. Là một cái quán.
Quán nhậu vỉa hè, bàn nhựa đỏ, ghế nhựa đỏ, tivi treo trên tường đang chiếu đá banh. Tôi ngồi ở cái bàn trong cùng.
Cái quán đó tôi biết. Nó ở đường Trần Hưng Đạo, khúc gần Nguyễn Văn Cừ, và tôi tới đó đúng một lần trong đời, tối thứ Năm tháng Năm, hồi ông Mười Đậu kêu tôi bằng ba cuộc gọi nhỡ và một tin nhắn viết không dấu.
Trong mấy cái này thì bao giờ cũng vậy: chỗ thì đúng từng cái ghế, mà người thì mờ.
Đối diện tôi có một người ngồi. Tôi không thấy mặt, tại vì trong mấy cái đó không bao giờ có mặt người.
Trên bàn có tám cái vỏ chai xếp thành hàng.
Người đó đẩy qua cho tôi một cái ly, rót đầy, rót tràn, bọt chảy xuống mặt bàn.
Rồi người đó nói:
"Bây có cần tiền hông?"
Tôi tỉnh dậy lúc bốn giờ hai mươi sáng, ngồi trên giường trong phòng 3, và tôi ngồi đó tới sáng.
Sáng mùng tám tôi qua nhà bà Tư Lành.
Nhà bà ở trong một con hẻm nhỏ cách vựa chừng bốn trăm thước, hẻm hẹp tới mức hai xe máy tránh nhau phải có một chiếc dừng lại.
Sáu năm rưỡi làm với bà, tôi vô nhà bà đúng ba lần, và cả ba lần đều là bà kêu.
Bà đang ăn sáng, ăn cơm nguội với cá kho, ngồi ở cái bàn nhỏ sát vách. Trên bàn thờ, hình người đàn ông trẻ, nhang đã tàn từ hôm trước.
Tôi kể.
Bà để đũa xuống.
"Ông Mười Đậu chưa chôn xong hả?"
"Chôn rồi dì. Chôn hồi tháng Tám. Con có đi."
"Vậy ổng còn thiếu cái gì?"
"Con đâu biết."
Bà Tư Lành ngồi im một lúc. Rồi bà hỏi tôi một câu mà tôi không nghĩ bà sẽ hỏi.
"Bây có nợ ổng cái gì hông?"
"Dạ?"
"Tao hỏi bây. Bây có nợ ổng cái gì hông."
Tôi ngồi đó, trong căn nhà nhỏ tối của bà, và tôi nhớ ra.
Bốn giờ hai mươi sáng thứ Tư mười ba tháng Tám, chợ Bình Tây, khu cầu số 3. Ông đang cột dây thun mấy bao hành tây. Ông nói còn mười hai triệu, Út, mười hai triệu mà bây kêu tao nghỉ.
Trong túi tôi lúc đó có bốn triệu hai.
Tôi không đưa. Tôi cũng không nói là tôi có.
"Có." Tôi nói.
Bà Tư Lành gật đầu một cái.
"Vậy thì không phải nợ ổng nữa." Bà nói. "Cái này là nợ bây."
"Dì nói con không hiểu."
"Cấp bốn nó không phân biệt được đâu con." Bà nói. "Nó chỉ biết là có cái thiếu, và cái thiếu đó dính vô ai thì nó tới đòi người đó. Ổng thiếu bà già ổng cái mộ, thì nó đòi bây. Bây thiếu ổng bốn triệu hai, thì nó cũng đòi bây."
Bà đứng dậy, dẹp chén.
"Ba mươi mốt năm tao coi cái này rồi." Bà nói. "Người ta tới cấp bốn thì cái gì cũng thành nợ hết. Cái người ta nợ, cái người ta bị nợ, cái người ta chỉ đứng ngó mà không làm gì. Nó gom hết vô một chỗ rồi nó đòi."
"Rồi trả sao dì?"
"Trả cái trả được." Bà nói. "Còn cái không trả được thì phải có người nhận giùm."
"Nhận giùm là sao dì?"
"Là có người đứng ra nói: cái đó của tui." Bà nói. "Nói thiệt lòng, không phải nói cho có. Rồi nó buông bây ra."
"Ai nhận giùm?"
Bà Tư Lành cầm cái chén đi ra sau rửa. Bà nói vọng vô, không quay lại:
"Ai thương bây thì người đó nhận."
Từ mùng tám tới mười lăm tháng Mười hai, nó tới thêm bốn lần nữa, và mỗi lần một chỗ khác.
Bốn lần trong bảy đêm. Trước đó nó tới mỗi tuần một lần, có tuần không tới. Từ tháng Chạp thì nó dày lên, và cái dày lên đó là thứ tôi ghi vô sổ chớ không phải nội dung của nó.
Một lần là cái hành lang khoa Hồi sức, có mấy cái chiếu nhựa mỏng trải sát chân tường. Tôi ngồi trên ghế inox, và có ai đó ngồi xuống cạnh tôi, và người đó hỏi tôi: vậy anh là gì của bà?
Một lần là dãy trọ đường Trần Thanh Mại. Cửa phòng số 7 mở, trong phòng có người ngồi trên giường quay lưng ra, và tôi đứng ngoài hành lang, và tôi không dám gõ.
Một lần là cái xưởng may, tôi đứng ở chuyền số 4, tay tôi đang may một đường lược trên một cái áo khoác gió, may hoài không hết cái đường đó.
Một lần là cây xăng Tân Nghĩa, nhà vệ sinh, bồn rửa thứ hai từ cửa vô, nước lạnh buốt răng.
Lần đó là lần duy nhất tôi tỉnh dậy mà không thấy nặng.
Ngày mười sáu tháng Mười hai tôi ghi vô cuốn tập một dòng, ghi ở trang có cái bảng năm cấp mà tôi vẽ hồi tháng Tám.
Dưới dòng Cấp 3, ít nhứt từ 2022, tôi viết:
Cấp 4, từ 12/2025.
Rồi tôi ngồi coi cái bảng đó.
5. ?
Ông già trên gác nói: cấp năm thì mày đang ngồi trước mặt nó.
Tôi lấy bút, và tôi điền vô dòng số năm, điền bằng chữ của tôi, không phải chữ ai kể lại:
5. Kêu gì cũng dạ.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 55 →