Tôi lên gác Phạm Đình Hổ lần thứ ba vào sáng thứ Sáu.
Ông già đang ngồi lột đậu phộng. Một rổ đậu còn vỏ để bên trái, một cái tô để bên phải, ông lột từng trái, bỏ hột vô tô, vỏ thả xuống một tờ báo trải dưới chân.
"Chú."
"Ngồi."
Tôi ngồi xuống mép chiếu.
"Con muốn trả."
Ông lột thêm ba trái nữa rồi ông mới ngước lên.
"Trả cái gì?"
"Trả cái con đang giữ. Trả về cho người ta."
Ông già ngừng tay.
Rồi ông làm một chuyện ông chưa làm hai lần trước: ông đẩy cái rổ đậu qua một bên, và ông ngồi thẳng lên.
"Trả cho ai?"
"Cho một ông. Ổng còn sống."
"Ổng còn ai đợi hông?"
Tôi ngồi im.
Tôi không biết. Tôi ngồi cạnh ông Bảy Đường hai buổi chiều, tôi biết ông ở trọ gần đó, ông gác sáu đêm một tuần, ông chùi bugi bằng giấy nhám. Tôi không biết ông có ai không.
"Con chưa biết."
"Vậy thì chưa nói chuyện trả được." Ông già nói.
Ông với lấy cái ly nhựa, không có nước, ông đặt xuống lại. Cái đó ông làm hoài, tôi để ý từ lần đầu.
"Một câu, một cái." Ông nói.
"Con biết."
Tôi ngồi lục.
Hai lần trước tôi trả bằng cái tên con hẻm có cây trứng cá, và bằng bữa cơm cuối cùng với mẹ tôi.
Lần này tôi ngồi lâu hơn, tại vì tôi bắt đầu biết đếm. Trong đầu tôi cái gì còn chắc thì tôi biết. Nó không nhiều.
Cuối cùng tôi kể chuyện này.
Năm hai ngàn mười sáu, tháng Tám, tôi lên Sài Gòn lần đầu. Tôi đi xe đò từ Đức Huệ, xuống ở bến xe An Sương lúc bốn giờ chiều, và tôi không biết đi đâu. Trong túi tôi có một triệu hai với một tờ giấy ghi số điện thoại của một người quen của má tôi.
Tôi gọi số đó. Không ai bắt máy.
Tôi ngồi ở bến xe An Sương từ bốn giờ chiều tới chín giờ tối. Tôi mua một ổ bánh mì không, mười ngàn. Tôi ngồi trên cái ghế đá, ăn ổ bánh mì đó rất chậm, và tôi coi người ta lên xe xuống xe.
Chín giờ tối có một bà bán nước ở đó hỏi tôi chờ ai. Tôi nói con chờ người ta tới đón. Bà nói người ta không tới đâu con, đi kiếm chỗ ngủ đi. Rồi bà chỉ tôi một nhà trọ hai chục ngàn một đêm ở gần đó.
Tôi kể chuyện đó chừng ba phút.
Kể xong tôi ngồi im. Trên gác nóng, mấy vệt nắng lọt qua khe tôn đã ngả sang bên kia.
"Ừ." Ông già nói. "Cái đó đủ."
Rồi ông nói ba điều kiện.
"Muốn trả một cái về đúng chỗ của nó thì phải đủ ba thứ cùng lúc. Thiếu một thứ thì nó rớt giữa đường, thành hàng lạc, rồi nó dính vô ai đi ngang."
Ông giơ ngón cái.
"Một: đúng người. Không phải người giống giống. Đúng cái người nó rời ra."
Ngón trỏ.
"Hai: đúng canh. Cái đó lấy ra ở canh nào thì phải trả ở canh đó. Lấy canh Ba thì trả canh Ba. Không có xê xích."
Ngón giữa.
"Ba: hai đầu đều phải có người đợi."
Tôi ngước lên.
"Hai đầu là sao chú?"
"Là bên cho với bên nhận." Ông nói. "Cái thằng nằm trả, phải có người gọi tên nó. Cái người nhận lại, cũng phải có người gọi tên. Cùng một đêm, cùng một lúc."
"Sao phải vậy chú?"
Ông cầm một trái đậu phộng lên, bóp cho nứt vỏ.
"Mày thả một cái đồ ra giữa đêm thì nó đi đâu?" Ông nói. "Nó đi theo tiếng gọi. Không có tiếng gọi thì nó đứng đó. Đứng đó thì sáng ra nó thành đồ hoang."
Tôi ngồi tính.
Đúng người: có. Ông Bảy Đường, cổng nghĩa trang Bình Hưng Hòa.
Đúng canh: canh Ba. Cái phiếu đêm mùng hai tháng Sáu ghi canh Ba.
Hai đầu có người đợi.
Bên tôi thì không có ai. Đó là chuyện tôi biết rõ nhứt trên đời này, rõ hơn cả ngày sinh của mình.
Bên ông Bảy Đường thì tôi không biết, mà tôi đoán được, tại vì một người còn có ai đợi thì người đó không tới cấp năm.
"Chú."
"Ờ."
"Nếu hai đầu đều không có ai đợi thì sao?"
Ông già lột nốt trái đậu trong tay, bỏ hột vô tô.
"Thì thôi." Ông nói. "Thì giữ."
"Giữ tới bao giờ?"
"Tới chừng nào có." Ông nói. "Hoặc tới chừng nào mày cũng như tao."
Tôi ngồi trên gác đó thêm chừng mười phút.
Trước khi tôi xuống, ông già nói thêm một câu, và ông nói cái này không phải để trả lời câu hỏi nào của tôi hết.
"Có chín cái thì mày trả chín lần." Ông nói. "Chín lần, chín đêm, mỗi đêm một cái. Mà mấy cái đó nó không nằm ở chín chỗ trong người mày đâu. Nó dính chùm."
"Dính chùm là sao chú?"
"Là kéo một cái thì cả chùm nó đi theo." Ông nói. "Cho nên người ta không trả lẻ được. Người ta trả một lần hết, hoặc người ta không trả gì hết."
Ông với cái ly nhựa lần nữa. Lần này ông cầm lên, nhìn vô trong, thấy không có nước, rồi ông đặt xuống.
"Mà trả một lần hết thì phải đủ chín người cùng nằm một đêm." Ông nói. "Chín người nằm, chín người đứng ngoài gọi. Mười tám người, một đêm, một chiếu, một ngọn đèn."
Ông nói tới đó thì ông cười, tiếng cười khô, hai tiếng.
"Ba mươi năm nay tao chưa thấy ai gom nổi mười tám người."
Tôi xuống mười bốn bậc.
Ra tới hẻm tôi mới nhớ ra tôi quên hỏi ông một chuyện: mười tám người đó, ai là người thắp? Ai gọi vào, ai gọi ra?
Tôi định quay lên. Rồi tôi thôi, tại vì một câu là một cái, và bữa đó tôi hết đồ để trả.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 48 →