Tôi trở lại nghĩa trang Bình Hưng Hòa chiều thứ Tư, mười chín tháng Mười một, lúc bốn giờ.
Tôi đi một mình. Tôi có nghĩ tới chuyện rủ Thư, rồi tôi thôi, tại vì cái tôi định làm chiều đó thì tôi chưa biết gọi tên nó là gì.
Ông đang quét lá ở khoảng sân trước dãy mộ số 3. Chổi tàu cau, quét dồn lá vô một đống, rồi đốt. Khói bốc lên chậm vì không có gió.
"Chú Bảy."
Ông ngước lên.
"Ờ."
Người ta ở đây kêu ông là chú Bảy. Cô ở văn phòng nói ông tên Bảy Đường, không ai biết chữ Đường là tên hay là gì, hồi ông mới vô làm có một ông đồng nghiệp cũ kêu vậy rồi cả nghĩa trang kêu theo.
Tôi ngồi xuống cái ghế đá gần đó.
"Chú nhớ con hông chú? Bữa trước con có ghé, con xin chú ly nước trà."
Ông nhìn tôi. Ông nhìn lâu, thiệt tình, cái nhìn của người đang cố.
"Ờ. Ờ có." Ông nói. "Chú uống nước hông chú?"
Ông không nhớ. Cái "ờ có" đó là cái ông nói với mọi người.
Ông rót nước cho tôi, rồi ông quét tiếp.
Tôi ngồi coi ông quét chừng mười lăm phút. Ông quét kỹ, quét dồn theo từng luống chớ không quét vòng. Tới chỗ có bậc thì ông dừng, lấy tay hất lá ra khỏi khe, rồi quét tiếp. Ông làm cái đó bằng nhịp của người làm việc bằng tay ba chục năm.
Bốn giờ rưỡi tôi hỏi ông một câu.
"Chú Bảy, chú lái xe hồi nào vậy chú?"
Ông ngừng chổi.
"Sao chú biết tui lái xe?"
"Bữa trước chú nói. Chú nói vô số, ra số, đạp thắng."
"Ờ." Ông cười. "Cái đó tay nó nhớ."
"Chú lái xe gì chú? Xe tải hay xe khách?"
Ông đứng đó, hai tay chống lên cán chổi, và ông nghĩ.
Tôi ngồi im để ông nghĩ. Ông nghĩ chừng nửa phút, mà đó là nửa phút thiệt, không phải nửa phút cho có: mắt ông đi, cằm ông động đậy, ông đang lục.
"Xe dài." Ông nói.
"Dài cỡ nào chú?"
Ông đưa tay ra, đo trong không khí, đo từ chỗ này qua chỗ kia, đo bằng cả người.
"Dài. Ngồi trên cao. Nhìn xuống thì thấy nóc xe con." Ông nói. "Vô số nặng. Phải đạp côn hết chân."
"Chú chở người hay chở hàng?"
Ông đứng im.
Rồi ông nói, và ông nói cái này bằng một giọng khác hẳn, nhanh hơn, gọn hơn, giọng của người đọc thuộc lòng:
"Bà con ai đi vệ sinh thì xuống nghen. Mười lăm phút."
Tôi ngồi trên ghế đá và tôi nghe cái câu đó.
Ông nói xong thì ông cũng ngạc nhiên. Ông nhìn tôi, rồi ông cười, cười ngượng.
"Ủa. Cái đó ở đâu ra vậy ta."
Năm giờ chiều, tôi hỏi ông ngồi xuống nghỉ chút được không.
Ông ngồi xuống ghế đá cạnh tôi, lấy trong túi áo ra một điếu thuốc, kẹp lên vành tai, không hút.
"Chú Bảy."
"Ờ."
"Con hỏi chú cái này, chú đừng giận."
"Chú hỏi đi."
"Chú tên gì?"
Ông cười, cái cười quen.
"Chú kêu gì tui dạ nấy được mà."
"Con không kêu đại được." Tôi nói. "Con muốn kêu đúng."
Ông ngồi im.
Tôi lấy trong túi áo ra tờ giấy phô-tô mờ, bản sao giấy phép lái xe hạng E mà anh Kiên đưa tôi ở Quy Nhơn. Trên đó có ảnh, có số, có tên. Tôi không đưa cho ông coi. Tôi gấp lại, bỏ vô túi.
Rồi tôi quay qua ông, và tôi gọi.
"Nguyễn Văn Đường."
"Dạ."
"Nguyễn Văn Đường."
"Dạ."
"Nguyễn Văn Đường."
"Dạ."
Ba tiếng. Đều nhau. Tôi gọi đúng cái nhịp bà Tư Lành gọi, không cao giọng, không kéo dài, ba tiếng cách nhau đúng một nhịp thở.
Ông dạ đủ ba lần.
Rồi ông ngồi đó, hai tay để trên đầu gối, và ông nhìn ra khoảng sân có đống lá đang cháy âm ỉ.
Không có gì xảy ra hết.
Tôi ngồi cạnh ông chừng năm phút, chờ. Tôi không biết tôi chờ cái gì. Chắc trong đầu tôi lúc đó có một cái ý ngu ngốc rằng ba tiếng gọi đúng tên cũng như cái công tắc, và tới tiếng thứ ba thì ông sẽ quay qua tôi và ông sẽ hỏi ủa mày là thằng nào.
Ông không hỏi gì hết.
Chừng năm giờ hai mươi ông đứng dậy, cầm chổi, nói tui đi coi mấy cái đèn ngoài kia, rồi ông đi.
Tôi ngồi lại một mình trên ghế đá.
Trong đầu tôi lúc đó có chín cái mảnh. Chín cái đó là của ông. Mùi dầu gió là của ông. Cái rát hai bên thái dương là của ông. Cái vị cà phê ngọt gắt, cái khúc cua có cây me tây, cái bàn tay vịn vai ghế, cái câu hỏi lễ phép của thằng nhỏ ngồi ghế số ba, cái bài bolero bị tắt ngang.
Tôi giữ ba mươi phút cuối cùng của đời ông trong người tôi, giữ chung với chín người lạ nữa rải khắp thành phố này.
Còn ông thì ngồi đây, gác nghĩa trang, kêu gì cũng dạ, và nhớ đúng một câu: bà con ai đi vệ sinh thì xuống nghen.
Sáu giờ tôi ra về.
Ông đứng ở chòi kính cổng, giơ tay chào tôi, cái kiểu chào của bảo vệ chào khách ra khỏi cổng.
"Chú Bảy."
"Ờ."
"Tuần sau con ghé nữa nghen chú."
"Ờ, ghé chơi." Ông nói. "Mà chú ghé giờ này nghen, giờ này tui rảnh."
Chạy được nửa đường về Chợ Lớn thì tôi tấp vô lề, và tôi ngồi trên xe chừng mười phút.
Cái làm tôi phải tấp vô không phải chuyện ông không nhớ.
Là chuyện ông hẹn tôi.
Chú ghé giờ này nghen, giờ này tui rảnh. Người không còn tên vẫn hẹn được. Vẫn biết mấy giờ mình rảnh, vẫn muốn có người ghé.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 47 →