Tháng Mười tôi nằm hai mươi bảy đêm.
Hai mươi bảy đêm trên ba mươi mốt ngày. Bà Tư Lành bắt tôi nghỉ bốn đêm, và cả bốn đêm đó tôi đều nằm ở nhà mà không ngủ được.
Hoa hồng tháng đó: hai mươi mốt triệu tám. Gấp đôi tháng trước, vì số canh bán được tăng theo số người gửi vô.
Tôi đóng đủ tiền viện tháng Mười, trả nốt phần thiếu tháng Chín, và tôi để riêng ra bốn triệu bỏ vô một cái bao thư dán lại, viết bên ngoài hai chữ Cai Lậy.
Bốn triệu trên sáu mươi hai.
Cuốn tập của tôi tháng đó dày lên nhanh. Mục "cái mới" có bốn mươi mốt dòng.
Tôi chép lại đây vài dòng, không chọn lọc, chép theo thứ tự:
7/10. Biết bơi. (Thử ở hồ bơi Lam Sơn, 25k một lượt. Nổi được. Không biết bơi kiểu gì, mà nổi được.)
9/10. Ghét mùi nước hoa nhài. Trước không sao.
12/10. Gọi cái vá là cái muôi. Sửa lại được, mà lần nào cũng phải sửa.
14/10. Nhớ số nhà 47 đường gì đó ở Gò Vấp. Không biết nhà ai.
15/10. Trưa nay ngủ dậy, đi thẳng ra hẻm rồi quẹo trái. Nhà mình quẹo phải.
19/10. Đứng chờ đèn đỏ ở Hồng Bàng, có bà chạy ngang kêu "anh Tuấn ơi". Không dạ. (Có nhích đầu.)
22/10. Ăn ớt được.
Dòng cuối đó tôi ghi rồi tôi ngồi coi hồi lâu.
Sáu năm nay tôi không ăn được ớt. Cái đó không nằm trong mười dòng, tại vì hồi tháng Tư tôi không nghĩ tới nó, mà tôi biết chắc: bà Chín bán ớt ngâm, sáu năm tôi ăn cháo ở đó, và sáu năm tôi chưa gắp miếng ớt nào.
Bây giờ tôi ăn được.
Chuyện lạ không phải ở chỗ tôi ăn được. Chuyện lạ ở chỗ tôi ăn xong tôi thấy ngon.
Ngày hai mươi lăm tháng Mười tôi đi hỏi giá bốc mộ.
Nghĩa trang nằm ngoài Bình Hưng Hòa, khu cũ, phía trong cùng. Văn phòng là một căn nhà cấp bốn quét vôi vàng, có cái quạt trần quay chậm, có một cô ngồi máy tính và một ông trung niên ngồi hút thuốc.
Ông đưa tôi bảng giá in trên giấy A4 ép nhựa. Bốc mộ: bảy triệu. Hũ cốt: từ một triệu hai. Xe: tùy nơi tới. Thủ tục giấy tờ: hai triệu rưỡi, ông nói cái đó gồm luôn phần chạy giùm.
"Chú làm cho ai?"
"Dạ cho một bà cụ."
"Bà cụ nhà chú hả?"
"Dạ không."
Ông ngước lên nhìn tôi qua làn khói.
"Vậy chú là gì của bà?"
Tôi đứng đó trước cái quạt trần quay chậm và tôi không trả lời được, y như hồi tháng Tư ở hành lang bệnh viện, y như cái lần cô điều dưỡng hỏi tôi câu đó lần đầu.
Ra tới cổng nghĩa trang thì tôi gặp ông bảo vệ.
Chòi bảo vệ nằm ngay cổng, có cái ghế bố, cái bình thủy, và một cái radio nhỏ đang mở nhạc. Ông bảo vệ chừng năm mươi mấy, người khô, tóc cắt ngắn, mặc áo đồng phục bạc màu.
Ông đang ngồi tháo cái bugi xe máy ra chùi.
Tôi hỏi xin nước.
Ông rót cho tôi ly nước trà, rồi ông quay lại chùi cái bugi.
Ông chùi bằng giấy nhám, chùi rất kỹ, xoay đúng một chiều, thổi, rồi soi lên nắng coi khe hở.
"Chú rành xe quá."
"Ờ." Ông nói.
"Chú làm nghề gì trước hả chú?"
Ông ngừng tay chừng một nhịp.
Rồi ông nói:
"Vô số, ra số, đạp thắng."
"Dạ?"
"Cái đó tay nó nhớ." Ông nói. Ông vẫn không ngước lên. "Còn tui làm nghề gì thì tui không nhớ."
Tôi đứng ở cổng nghĩa trang Bình Hưng Hòa, ly nước trà trong tay, và tôi nghe một cái gì đó trong người mình dựng lên.
"Chú tên gì chú?"
Ông lắp cái bugi vô, vặn.
"Chú kêu gì tui dạ nấy được mà."
Ông nói câu đó bình thường như nói về thời tiết, rồi ông đứng dậy, đạp máy, xe nổ, ông tắt đi, ngồi xuống lại.
Tôi hỏi thêm ba câu nữa. Ông trả lời hai câu đầu: ông gác ở đây ba năm rồi, ông ở trọ gần đây. Câu thứ ba thì ông không trả lời, ông chỉ cười.
Tôi về.
Tối đó tôi ghi vô cuốn tập, mục riêng, không phải mục "cái mới":
25/10. Bảo vệ nghĩa trang Bình Hưng Hòa. Chừng 50-55. Kêu tên gì cũng dạ. Tay còn nhớ một cái nghề mà đầu không nhớ.
Tôi ngồi coi dòng đó một lát rồi tôi gấp cuốn tập lại.
Trong nghề tôi, người như ông không hiếm. Ông già trên gác Phạm Đình Hổ cũng vậy: nói bằng chuyện của người khác, không nhận tên nào. Cấp năm thì như vậy. Cả thành phố này chắc có mười mấy hai chục người như thế, nằm rải ở mấy chỗ người ta không hỏi giấy tờ, làm mấy cái việc không cần biết tên: giữ xe, quét chợ, gác nghĩa trang.
Tôi ghi ông vô sổ như ghi một cái mốc đường. Rồi tôi nghĩ qua chuyện khác, chuyện bốc mộ bảy triệu, chuyện hũ cốt một triệu hai, chuyện tôi còn thiếu năm mươi tám triệu.
Sau này nghĩ lại, tôi vẫn không tự trách được chỗ đó. Lúc đó tôi đang đi tìm một người đàn ông chấm dầu gió trong nhà vệ sinh cây xăng, và cái tôi hình dung về ổng là một người còn đủ tên, đủ nhà, đủ vợ con, một người mà tôi gõ cửa thì ổng mở.
Tôi không đi tìm một ông già ngồi chùi bugi ở cổng nghĩa trang, kêu gì cũng dạ.
Đêm đó tôi nằm cho một trăm bốn mươi hai người, và sáng ra tôi có thêm chín dòng trong mục "cái mới". Dòng thứ tư là:
Biết chỗ để chìa khóa dự phòng của một cái xe không phải xe mình.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 40 →