Tôi thấy ông Tư Bền lần đầu ở lề đường Lê Đại Hành, lúc ông đang ói.
Ông ngồi xổm cạnh gốc cây, một tay chống xuống lề, tay kia giữ cái nón bảo hiểm. Xe ông dựng cách đó hai bước, sau yên buộc một cuộn dây điện với một cái thang xếp.
Người ta đi ngang, có người ngoái lại, không ai dừng.
Tôi dừng. Tôi rót cho ông chai nước tôi mang theo.
Ông súc miệng, nhổ xuống cống, rồi ông ngồi luôn xuống lề, thở.
"Cảm ơn chú."
"Chú có sao không?"
"Không sao. Bữa nào cũng vậy." Ông chỉ về phía trước bằng cằm. "Tại cái tiệm đó."
Cách đó chừng bốn căn là một tiệm tạp hóa. Loại tiệm cũ, hàng bày tràn ra vỉa hè: xà bông, dầu ăn, mì gói, và một cái quầy kính nhỏ đặt sát cửa bày mấy chục chai dầu gió, dầu xanh, dầu cù là, cao sao vàng.
"Chú đi ngang đó là chú ói hả?"
"Ừ." Ông nói. "Hai năm nay. Nguyên con đường này tui phải đi vòng, mà bữa nay tui quên."
Ông Tư Bền bốn mươi bảy tuổi, thợ điện, chạy công trình lẻ. Ông có bán canh, bán bên vựa một bà ở Q.11 mà giờ bà đó nghỉ rồi.
"Chú ngửi dầu gió là ói, hay ngửi cái gì cũng ói?"
"Dầu gió xanh thôi." Ông nói. "Dầu khác không sao. Mà cái thứ dầu gió xanh đó, ngửi phát là tui nghe trong người nó dựng lên. Không phải hôi. Nó giống như… giống như mình bôi vô mà nó không ăn thua nữa."
Tôi ngồi xuống lề đường cạnh ông.
"Chú nói lại câu đó được không chú?"
"Câu nào?"
"Câu bôi vô mà không ăn thua."
Ông nhìn tôi. "Ờ thì… bôi vô mà không ăn thua. Bôi thêm cũng vậy. Bôi nữa thì lợm giọng."
Tôi ngồi trên lề đường Lê Đại Hành lúc mười giờ sáng và tôi ráp hai cái lại với nhau.
Cái của tôi: nước lạnh buốt răng, cái bồn inox, chấm dầu gió lên hai bên thái dương, xoa mạnh cho rát. Rát thì tỉnh.
Cái của ông: bôi thêm lần nữa mà không ăn thua, lợm giọng, muốn ói.
Đó không phải hai chuyện. Đó là một chuyện, cùng một người, cùng một chai dầu, cách nhau chừng mười lăm phút.
Người ta chẻ nó ra làm hai. Cái cảm giác để một chỗ, cái phản ứng để một chỗ khác.
Tôi ngồi đó đủ lâu để ông Tư Bền hỏi tôi có sao không.
Chuyện quan trọng không phải là hai mảnh khớp nhau. Chuyện quan trọng là ở chỗ này: nếu tôi với ông cùng nằm ở vựa bà Tư Lành đêm đó, cùng nhận đại một mớ trong đám hàng tồn, thì cái mớ của tôi với cái mớ của ông phải lộn xộn, mỗi người một đống không đâu vô đâu.
Đằng này nó không lộn xộn. Nó bị cắt đúng chỗ, cắt gọn, như người ta lấy dao rọc giấy rọc một tấm hình làm đôi.
Cắt như vậy thì phải có người cầm dao.
Chiều đó tôi qua Thủ Đức.
Công trình nhà phố năm tầng, đang tô. Hùng "sắt" hai mươi chín tuổi, phụ hồ, người ta gọi nó vậy vì nó khiêng sắt. Nó ngồi ăn cơm hộp trên đống gạch, cởi trần, lưng đầy vảy xi măng khô.
Tôi hỏi nó chuyện bolero.
Nó cười ngượng, ngó qua chỗ mấy ông thợ.
"Tụi nó chọc em hoài." Nó nói. "Nghe bolero là em đứng hình. Không phải bài nào cũng vậy, mà bài nào chậm chậm, có tiếng ghi-ta phím lõm đó anh."
"Đứng hình sao?"
"Là em đang làm gì thì em ngưng. Chừng ba bốn giây." Nó gãi đầu. "Rồi trong đầu em nó tắt cái rụp."
"Tắt là sao?"
"Là cái bài nhạc đó nó bị tắt ngang. Không phải hết bài. Là có ai bấm nút tắt."
Nó nói xong nó cười, cái cười của người kể chuyện mình bị khùng cho vui.
"Anh hỏi chi vậy anh?"
"Anh đang gom." Tôi nói.
"Gom cái gì?"
Tôi không trả lời được câu đó. Tôi cho nó số điện thoại của tôi, tôi nói nếu có gì lạ thì nhắn anh, rồi tôi về.
Đêm đó tôi nghỉ nằm. Đó là đêm nghỉ thứ hai trong tuần.
Tôi mở tủ, gỡ tờ giấy mười dòng ra, lật mặt sau, cái mặt có chín cái tên tôi chép hồi tháng Tám.
Rồi tôi lấy thước kẻ vạch một đường ngang, và tôi bắt đầu đặt.
Cái bồn rửa, dầu gió, rát thái dương: của tôi.
Bôi thêm không ăn thua, lợm giọng: ông Tư Bền.
Đếm tiền bằng đầu ngón tay trong tối, đồng hồ hai giờ hai mươi lăm: bà bán vé số ở quán cà phê võng, người tôi chưa biết tên.
Ngón tay bấm một dãy số thuộc lòng: chị Loan.
Giọng đàn ông khàn, "còn hai trăm cây nữa thôi, ráng đi", có tiếng bóng đá phía sau: Thảo.
Một bàn tay vịn vai, rồi có người ngồi xuống ghế bên cạnh: ông Chín Tàng.
"Chú ngủ được nhiêu tiếng rồi chú", giọng miền Trung, lễ phép: cô Bảy Xíu.
Bolero mở nhỏ rồi bị tắt ngang: Hùng "sắt".
Khúc cua trái, biển năm chục, cây me tây cụt ngọn: anh Dũng.
Chín cái.
Tôi ngồi coi cái đường kẻ ngang đó rất lâu. Chín cái mà tôi chỉ đặt chắc được một cái vô đúng chỗ: hai giờ hai mươi lăm.
Tám cái còn lại tôi để lơ lửng phía trên đường kẻ, không biết cái nào trước cái nào sau.
Rồi tôi lật tờ giấy qua mặt kia, mặt chép chín cái tên ở kho phiếu, và tôi dò từng cái.
Nguyễn Thị Loan: có. Đặng Thu Thảo: có. Trần Văn Dũng: có. Lê Thị Cẩm: chắc là bà bán vé số, tôi chưa hỏi tên bà lần nào. Trương Văn Tàng: có. Phạm Thị Xíu: có. Nguyễn Văn Bền: có. Đỗ Minh Hùng: có.
Tám trên chín. Còn một cái tên tôi chưa gặp: Nguyễn Thị Ngọc.
Tôi lật tờ giấy lại mặt trước, mặt mười dòng, và tôi ngồi nhìn nó.
Trên cái đường kẻ ngang tôi vừa vẽ có chín cái mảnh. Tám cái là của tám người trong danh sách.
Cái thứ chín là của tôi.
Mà tên tôi thì không có trong danh sách đó. Tên tôi nằm ở chỗ khác, nằm dưới dòng "Ký" của một tờ phiếu khác, một tờ đề đêm mùng hai tháng Sáu, và tờ đó không phải bán đứt.
Nghĩa là chuyện này không phải chín người. Ít nhứt là mười.
Tôi lấy bút, khoanh tròn cái tên Nguyễn Thị Ngọc, rồi tôi viết bên cạnh, chữ nhỏ, cho vừa cái lề: còn ai nữa?
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 31 →