Ông Chín Tàng hớt tóc dạo dưới gốc cây me trên vỉa hè đường Trần Hưng Đạo, khúc gần rạp hát cũ. Đồ nghề của ông là một cái ghế xếp, một cái hộp thiếc đựng kéo tông đơ treo vô thân cây bằng dây kẽm, một bình xịt nước, và một tấm bạt trải dưới đất hứng tóc.

Tôi tới lúc chín giờ sáng. Có một ông khách đang ngồi.

"Chú chờ chút nghen." Ông Chín nói. "Còn cái này nữa là xong."

Tôi ngồi xuống cái ghế nhựa để dành cho khách chờ.

Ông Chín sáu mươi tuổi, người khô, tay còn chắc. Ông hớt bằng tông đơ tay, loại bóp, không xài điện. Tiếng nó lách cách đều đều, nghe buồn ngủ.

Hớt được chừng hai phút thì ông quay đầu lại nhìn ra sau lưng.

Không có ai ở đó. Sau lưng ông là lòng đường, xe chạy.

Ông quay lại, hớt tiếp. Ba mươi giây sau ông lại quay ra sau.

Lần thứ ba thì cái tông đơ của ông đi lệch một đường, xén mất một mảng tóc sát da ở phía trên tai ông khách.

"Ủa ông Chín."

"Chết cha." Ông Chín cúi xuống nhìn. "Thôi chú để tui gọt luôn cho đều, tui hớt free tháng này cho chú."

Ông khách chửi một câu rồi cũng chịu. Ông Chín gọt lại, gọt ngắn hết cái đầu.

Khách đi rồi, tôi mới ngồi vô ghế.

"Chú hớt kiểu gì?"

"Dạ hớt ngắn hai bên."

Ông choàng khăn cho tôi, bắt đầu.

"Ông Chín hớt lâu chưa ông?"

"Bốn mươi mốt năm." Ông nói. "Từ hồi mười chín tuổi."

"Vậy chắc ông hớt hư ít lắm."

Cái tông đơ khựng lại một nhịp.

"Chú thấy hồi nãy rồi hả."

"Dạ."

Ông không nói gì một lúc. Ông hớt được nửa bên trái, rồi ông đi vòng qua bên phải, rồi ông nói, giọng bình thường:

"Tuần này ba cái. Tuần rồi hai cái."

"Sao vậy ông?"

"Tại nó ngồi sau lưng."

"Ai ngồi ông?"

"Không có ai hết." Ông nói. "Tui biết là không có ai. Bốn mươi mốt năm tui đứng hớt ngoài đường, sau lưng tui là lòng đường, chú nghĩ có ai ngồi được ở đó hả?"

Ông đưa tay lên, đặt lên vai trái của mình, ngay chỗ khớp vai.

"Nó vịn ngay đây." Ông nói. "Vịn một cái rồi nó ngồi xuống bên cạnh. Có tiếng ghế lún xuống."

"Ghế gì ông?"

"Ghế gì tui đâu biết. Ghế có nệm. Cái loại lún xuống rồi nó kêu è một cái đó."

Ông hớt xong, phủi cổ tôi bằng cái chổi lông, tháo khăn.

Tôi trả tiền, năm chục ngàn. Ông thối lại tôi hai chục.

"Ba chục thôi chú. Tui hớt cho chú có mười lăm phút."

Đêm hôm sau tôi xuống Vĩnh Lộc A lần thứ hai.

Lần này tôi tới sớm, mười một giờ, lúc xe hủ tiếu mới đẩy ra và chưa có khách. Cô Bảy Xíu đang nhóm bếp, bỏ củi vô cái lò dưới nồi nước lèo.

Tôi ngồi xuống ghế nhựa.

"Ăn gì chú?"

"Dạ cô cho con tô nhỏ. Mà cô ơi, con hỏi cô chuyện này được không cô?"

"Ừ chú hỏi."

Tôi nói. Tôi nói ngắn, nói thẳng: con làm nghề nằm hộ, cô có bán canh bên vựa chị Mai năm hai ngàn hai mươi hai, và bữa trước con ngồi đây con nghe cô hỏi một ông khách một câu mà cái câu đó không phải câu của cô.

Cô Bảy Xíu đứng im, tay còn cầm cái que cời lửa.

Tôi chuẩn bị sẵn tinh thần cô đuổi tôi. Tôi cũng chuẩn bị sẵn cho chuyện cô sợ.

Cô không làm cái nào hết.

Cô đặt cái que xuống, kéo cái ghế nhựa, ngồi xuống đối diện tôi, và cô thở ra một hơi rất dài.

"Trời ơi." Cô nói. "Vậy là tui không có điên."

Cô kể. Cô kể một mạch, nói nhanh, nói như người ta đã soạn sẵn trong đầu ba năm mà chưa có ai để nói.

Cái câu đó bật ra lần đầu vô cuối năm hai ngàn hai mươi hai, hỏi một ông xe ôm. Ông đó chửi cô. Cô xin lỗi. Về nhà cô khóc.

Rồi nó bật ra nữa. Chừng hai ba tháng một lần. Có lần hỏi một cô công nhân. Có lần hỏi một thằng nhỏ mười mấy tuổi, thằng nhỏ tưởng cô giỡn, nó cười.

"Tui hỏi cái câu đó ra rồi tui đứng như trời trồng." Cô nói. "Tại vì tui đâu có muốn hỏi. Miệng tui nó hỏi."

"Cô có nói với ai không cô?"

"Nói với ai chú? Nói với chồng tui hả? Ổng nói tui làm đêm nhiều quá nên đầu óc nó lộn xộn, kêu tui nghỉ bán. Mà nghỉ bán thì lấy gì ăn." Cô lắc đầu. "Tui đi coi thầy một lần. Thầy nói tui bị vong theo. Thầy kêu cúng ba triệu."

"Cô cúng không cô?"

"Cúng chớ." Cô nói. "Cúng xong nó vẫn vậy."

Cô đứng dậy, bỏ thêm củi vô lò, rồi cô quay lại.

"Mà chú nè. Cái câu đó, cái giọng đó, tui nghe kỹ rồi. Nó là giọng thằng nhỏ nào đó, giọng miền Trung, chừng hai mươi mấy tuổi."

Cô nói tiếp, và cô nói cái này chậm hơn hẳn:

"Nó lễ phép lắm chú. Nó gọi bằng chú. Nó hỏi thiệt tình chớ không phải hỏi cho có."

Tôi ngồi đó.

Ba năm nay tôi nghĩ về cái tôi giữ trong mình như nghĩ về hàng tồn: một đống đồ không tên, không mặt, chất trong kho. Đêm đó, trên cái ghế nhựa ở khúc ngã ba Vĩnh Lộc A, lần đầu tiên có người tả cho tôi nghe một trong mấy cái đó bằng chữ "lễ phép".

Cô Bảy bưng ra tô hủ tiếu, đặt trước mặt tôi, rồi cô ngồi xuống lại.

"Chú."

"Dạ."

"Vậy cái đó là của ai?"

Hết Chương 29
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 30 →
← TrướcTiếp →