Mười giờ năm mươi tối thứ Năm, tôi đứng dưới đường nhìn lên tầng ba.
Bà Tư Lành bắt tôi nghỉ đêm đó, rồi tới chiều bà nhắn một tin cụt ngủn: canh ba đông, ra nằm một canh thôi rồi về. Vậy là tôi có bốn tiếng đồng hồ không biết làm gì. Tôi chạy xe lòng vòng Chợ Lớn hai vòng, ăn một tô mì ở Phùng Hưng, rồi ra sớm.
Tôi chưa bao giờ đứng ở đây vào giờ này. Mọi đêm giờ này tôi đã nằm trên bục được bốn tiếng rồi.
Từ dưới nhìn lên chỉ thấy một ô cửa sổ vàng vàng, vàng đục, không giống ánh đèn điện. Hàng người đứng dọc vỉa hè trước cửa tiệm thuốc bắc đã đóng, đứng thành hàng một, không ai nói chuyện với ai. Có người ngồi bệt trên bậc tam cấp. Có người ngồi luôn trên yên xe, chân chống đất, cắm cúi vô cái điện thoại.
Hai mươi mốt người. Tôi đếm.
Đây là khách của tôi. Sáu năm nay tôi nằm cho họ, và tôi chưa từng thấy mặt quá năm người trong số đó.
Người đứng đầu hàng là một anh chạy xe công nghệ, chừng ba mươi, áo xanh, đeo hai cái điện thoại gắn trên hai cái giá kẹp ở ghi-đông. Anh tên Phú, tôi biết vì bà Tư Lành gọi anh vô trước.
"Bữa nay Phú bán canh mấy?"
"Dạ canh Ba."
"Tuần này mấy lần rồi?"
"Dạ hai."
Bà nhìn anh. Anh không né mắt, mà anh cũng không nói thêm.
"Hai là hai nghen." Bà cầm cái áo khoác anh đưa, mở ra, ngửi rất nhanh. "Áo này bây mặc chạy xe cả ngày hả?"
"Dạ."
"Được. Hai trăm rưỡi."
Anh cầm tiền, gấp làm tư, nhét vô túi trước ngực, cài nút lại. Xuống tới cầu thang anh mở app ra coi liền, tay quẹt quẹt, mặt hiện lên cái màu xanh của màn hình. Anh sẽ chạy tới bốn giờ sáng. Hai tiếng ngủ của anh, từ mười một giờ tới một giờ, đang nằm trong cái túi nilon treo trên cây đinh thứ chín hàng thứ ba, dán mẩu giấy đề Lê Hoàng Phú.
Người thứ hai là một chị chừng bốn mươi, tóc buộc cao, xách theo cái giỏ nhựa đựng bình thủy và một hộp cơm. Chị đưa bà Tư Lành cái khăn mặt còn ẩm.
"Khăn này..."
"Dạ con lau cho nhỏ hồi chiều, chưa giặt."
"Không, tao hỏi là khăn của con hay khăn của nhỏ."
Chị đứng khựng một giây.
"Dạ của con."
"Ừ." Bà gấp cái khăn lại, để vô túi, buộc dây thun. "Con nhỏ nằm khoa nào?"
"Dạ Nhi Đồng 1, khoa Thận."
Bà không hỏi nữa. Bà ghi phiếu, đưa tiền, và tôi thấy bà đưa dư hai chục ngàn, làm như đếm nhầm. Chị Hạnh, tên chị ghi trên phiếu là Nguyễn Thị Hạnh, cũng làm như không thấy. Chị xách giỏ đi xuống, ra xe buýt đêm về lại bệnh viện, ngồi ghế nhựa cạnh giường con tới sáng, tỉnh táo, tại vì đêm nay chị không ngủ được và cũng không được phép ngủ.
Người thứ ba là ông Mười Đậu.
Tôi biết ông từ hồi nào không nhớ. Ông chạy ba gác ở chợ Bình Tây, người nhỏ, đen, cười thì hở cái răng bịt vàng. Ông lên cầu thang mà miệng đã oang oang từ bậc thứ năm.
"Dì Tư ơi! Tối nay có thằng nhỏ nằm hông dì?"
"Có. Mà ông nhỏ tiếng lại."
"Ủa nó nằm rồi hả?"
"Chưa. Nó đứng sau lưng ông kìa."
Ông quay lại, thấy tôi, đập vai tôi một cái nghe bốp.
"Trời đất, đứng chi đó cha nội. Tao tưởng bây nằm trong đó rồi chớ."
"Bữa nay con nghỉ, nằm mỗi canh Ba."
"Sướng." Ông móc trong túi quần ra cái áo thun ba lỗ vo tròn, đưa cho bà Tư Lành như đưa trái banh. "Dì, con canh Ba."
Bà mở cái áo ra. Bà không ngửi liền như mọi khi. Bà cầm nó một lát.
"Tuần rồi ông bán mấy?"
"Dạ... hai."
"Hai?"
"Dạ hai à dì." Ông cười. "Dì tính giùm coi: thứ Hai một, thứ Năm một. Vậy là hai chớ mấy."
"Còn thứ Ba?"
"Thứ Ba con qua bển." Ông khoát tay về hướng Q.6, cái hướng có vựa mới sửa lại đèn LED. "Bển nó đâu có tính chung sổ với dì."
Bà Tư Lành nhìn ông rất lâu. Rồi bà ghi phiếu.
"Canh này của ông là canh cuối tuần này. Nghe chưa."
"Dạ nghe."
"Ông "dạ nghe" tao mười mấy năm rồi ông Mười."
"Thì tại bà vợ tui nó bệnh chớ tại tui hả dì." Ông nói câu đó vẫn bằng cái giọng cười cười, rồi ông đếm tiền, kỹ hơn hai người trước, đếm hai lần. Hai trăm năm chục ngàn. Ông nhét vô cái bóp da đã tróc, trong bóp có mấy tờ toa thuốc gấp làm tám.
Ông đi rồi thì tới một cô gái chừng hai mươi lăm, mặc áo sơ mi trắng, tóc kẹp gọn, tay cầm sẵn một cái áo len xếp vuông vức như đồ mới mua.
Bà Tư Lành nhìn cô từ lúc cô còn ở bậc thang thứ ba.
"Con về đi."
"Dạ? Con... con có đăng ký với anh Khoa mà dì."
"Dì biết. Con về đi."
"Dạ tại sao?"
Bà Tư Lành không trả lời câu đó. Bà chỉ hỏi lại một câu khác, giọng nhẹ hơn hẳn giọng bà nói với ông Mười Đậu.
"Nhà con mới có đám hả?"
Cô gái đứng im. Cái áo len trong tay cô hạ xuống chừng một tấc.
"Dạ... ba con. Mới mười ngày."
"Ừ." Bà gật đầu một cái, như xác nhận một chuyện đã biết. "Hết trăm ngày rồi con lên đây dì tính."
"Nhưng mà con..."
"Dì biết con cần. Hết trăm ngày rồi lên."
Cô gái đứng thêm một lát nữa, rồi cô xuống. Tiếng dép cô đi xuống mười chín bậc, tới bậc thứ mười một thì kêu một cái.
Tôi không hỏi. Trong nghề này có mấy chuyện hỏi thì bà Tư Lành trả lời, có mấy chuyện hỏi thì bà nhìn mình như nhìn thằng Khoa lúc nó đòi làm Excel.
Mười một giờ, tôi nằm xuống.
Hai mươi mốt cái tên. Sáu mươi ba tiếng gọi. Bà bắt đầu bằng Lê Hoàng Phú và kết thúc bằng Nguyễn Văn Mười.
Một giờ sáng bà gọi ra. Tôi ngồi dậy, cổ cứng như mọi bận, và trong miệng tôi có một cái vị rất rõ: chua, ngọt, có mùi bông gì đó hơi nhẫn, ăn với cá.
Canh chua bông điên điển.
Tôi chưa ăn món đó bao giờ. Tôi biết tên nó vì tôi từng thấy trên bảng hiệu mấy quán cơm miền Tây trên đường Kinh Dương Vương. Mà bông điên điển thì mùa nước nổi mới có, chừng tháng chín tháng mười. Bây giờ là tháng Tư.
Tôi cuốn chiếu, xuống cầu thang, chạy về. Dọc đường tôi có nghĩ tới chuyện tấp vô một quán nào đó coi thử họ có bán không.
Rồi tôi thôi. Chuyện đó ở nghề tôi là chuyện thường ngày.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 4 →