Sáu giờ rưỡi tối thứ Ba. Trên tầng ba chưa có ai ngoài hai người.
Trên tường phòng phiên có mấy hàng đinh mười phân, đóng cách nhau đúng một gang tay, đóng từ năm chín tư. Có mấy cây đã cong, bà không nhổ, bà chỉ không treo túi lên đó nữa.
Bà Tư Lành ngồi trên cái ghế đẩu cạnh cửa sổ, tháo bóng đèn dầu ra khỏi chân đèn, và lau bóng bằng giấy báo vò nhàu. Bà lau từ trong ra, xoay bóng trong lòng bàn tay, tờ giấy báo đen dần.
Tôi ngồi xuống sàn, dựa lưng vô cái bục.
Bảy giờ kém hai mươi thì trên tầng ba chỉ có tiếng bà lau bóng đèn với tiếng xe dưới đường.
Đó là khoảng thời gian tôi thích nhứt trong ngày, và sáu năm rưỡi nay tôi chưa nói với ai chuyện đó. Sau bảy giờ thì tôi không còn ở đây nữa. Trước sáu giờ thì tôi còn ở ngoài đường. Có chừng bốn chục phút mỗi tối, trong cái phòng vôi vàng ngả màu nước trà đó, tôi ngồi không làm gì hết và tôi vẫn còn nguyên là tôi.
"Dì."
"Ờ."
"Bữa trước dì nói nghề này nó không ăn giấc."
Bà lau tiếp, không ngẩng.
"Bây nhớ dai quá."
"Vậy nó ăn cái gì dì?"
Bà lau xong cái bóng, đưa lên soi ngược ánh sáng cửa sổ, thấy còn vệt thì lau lại chỗ đó. Bên ngoài, ở dưới đường, tiệm thuốc bắc đang dọn hàng vô, có tiếng kéo cửa sắt.
"Bây có biết vì sao trong thành phố này không tới hai chục thằng nằm được không?" Bà hỏi.
"Con không biết."
"Chớ bây tưởng sao? Tưởng khó lắm hả?" Bà đặt cái bóng xuống đùi. "Nằm thì ai nằm chả được. Nhắm mắt lại là nằm. Vấn đề là nằm rồi có về không."
"Về đâu dì?"
"Về lại mình chớ về đâu."
Bà lấy tờ giấy báo mới, vò nhàu.
"Nhà nào cũng có người ngóng." Bà nói. "Ông chồng đi nhậu, bà vợ ở nhà ngồi đợi. Con nhỏ đi học về trễ, bà má đứng ở cửa. Thằng con đi làm xa, bà già ở quê ngày nào cũng nhắc tên nó ba lượt. Cái đó là chuyện thường, thường tới nỗi không ai để ý."
"Dạ."
"Người có người ngóng thì trong người nó chật." Bà nói. "Chật thì chỉ chứa được của mình. Bây bỏ giấc của người ta vô đó thì nó trào ra, không vô được. Nằm cho một người là hết cỡ. Nằm cho ba người là ói."
"Ói thiệt hả dì?"
"Chớ bây tưởng tao nói cho vui." Bà chùi tay vô vạt áo. "Hồi chín mấy tao có nhận một thằng, hai mươi bốn tuổi, khỏe như trâu. Nó có vợ mới cưới. Tao biểu thôi mày về đi, nó không chịu, nó nói con cần tiền. Tao cho nằm hai người. Nửa canh nó bật dậy ói ra hết, ói tới mật xanh, rồi nó run cả tiếng đồng hồ."
"Rồi sao dì?"
"Rồi nó về, sáng vợ nó lên đây chửi tao một trận." Bà nói. "Chửi đúng. Từ đó tao không nhận người có vợ mới cưới."
Bà xoay cái bóng đèn.
"Còn thằng nào không có ai đợi thì trong nó lúc nào cũng còn chỗ." Bà nói tiếp, bình thường, không nhấn.
Tôi ngồi im.
Trên đường, tiệm thuốc bắc kéo xong cửa sắt, khóa hai ổ khóa, tiếng khóa kêu hai cái cạch cạch.
"Nghề này nó ăn cái đó." Bà Tư Lành nói. "Nó không ăn giấc. Giấc thì tối nào chẳng có. Nó ăn cái chỗ trống trong người ta. Ai trống nhiều thì làm được nhiều."
"Rồi trống hoài thì sao dì?"
"Thì trống hoài." Bà lắp cái bóng vô chân đèn, vặn lại. "Chớ bây tưởng sao? Tưởng nó đầy lại hả?"
Tôi hỏi câu tiếp theo mà tôi biết trước là mình sẽ hỏi ngay từ lúc leo cầu thang.
"Hồi năm mười chín dì chọn con, là vì cái đó hả dì?"
Bà Tư Lành ngừng tay.
Rồi bà vặn nốt cái chân đèn, đặt cây đèn lên bệ cửa sổ.
"Ừ."
"Dì biết con không có ai."
"Tao biết."
"Sao dì biết?"
"Tao làm nghề này ba mươi mốt năm." Bà nói. "Tao nhìn là biết. Cái đó nó không giấu được. Người có người đợi thì đi đứng nó khác, ăn cơm nó khác. Nó ăn cơm nó có ngó đồng hồ."
Bà cầm cái hộp quẹt lên, mà bà chưa thắp, tại vì chưa tới bảy giờ.
"Hồi đó mày hai mươi mốt tuổi, mày mới nghỉ phụ xe, mày ở trọ bên Q.8, mày ăn cơm bụi một mình mỗi ngày hai cữ. Má mày mất bốn năm rồi. Ba mày thì mày không biết. Mày lên đây ba năm mà mày chưa có bạn nào rủ mày đi nhậu."
Tôi ngồi nghe bà kể về tôi.
"Tao kêu mày lên, tao cho mày nằm thử một canh." Bà nói. "Nằm xong mày ói, mày nhớ hông? Ói mà mày không bỏ. Bữa sau mày lên lại. Tới bữa thứ ba thì tao biết là được."
"Được cái gì dì?"
Bà nhìn tôi.
"Được cái mà tao cần." Bà nói. "Chớ bây tưởng tao thương bây hả?"
Bà nói câu đó không cay. Bà nói bằng cái giọng bà nói về chiếu dệt máy với chiếu dệt tay.
Tôi ngồi im chừng nửa phút.
Ở dưới đường bắt đầu có tiếng dép. Khách canh Một tới sớm.
"Dì."
"Gì nữa."
"Hồi đó ai chỉ con cho dì?"
Bà Tư Lành cầm hộp quẹt, quẹt một cái. Que diêm cháy. Bà đưa vô bấc đèn, chờ bấc bén, rồi lắc tắt que diêm, bỏ vô cái dĩa sứt.
"Không ai hết."
"Dì nói dì kêu con lên. Ai nói với dì là có thằng đó?"
"Tự tao thấy mày."
"Dì thấy con ở đâu?"
"Ngoài đường." Bà nói. "Thôi, dẹp cuốn tập lại, người ta lên tới rồi kìa."
Câu "tự tao thấy mày" đó, tôi tin.
Tôi tin nguyên gần ba tháng.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 20 →