Chủ nhật tôi ở nhà.
Tôi mở cánh tủ ra, ngồi xuống nền gạch trước cái tủ, và tôi lấy cuốn tập một trăm trang để lên đùi.
Trên mặt trong cánh tủ, tờ giấy mười dòng vẫn dán bốn góc bằng băng keo hai mặt. Mép trên bên phải đã cong lên một chút vì hơi ẩm.
Tôi viết ở trang mới:
1. Giấc: mơ nguyên giấc, sáng ra hết.
2. Nét: cái vụn dính lại. Nghỉ 40 đêm thì rớt.
3. Ký: một khúc đời qua bên mình. Bên kia mất.
4. ? (người ta bắt đầu tới đòi)
5. ?
Rồi tôi ngồi đo.
Cấp một thì khỏi bàn. Sáu năm nay đêm nào cũng có, sáng ra hết, đó là nghề.
Cấp hai thì tôi có, và tôi có từ lâu rồi. Tôi ghi ra được chín cái, ghi trong hai chục phút:
Tôi không ăn được ớt, mà năm ngoái có lần tôi ăn hết chén ớt ngâm của bà Chín rồi tôi mới giật mình. Tôi biết cách xếp thùng carton cho khỏi bung, kiểu người ta xếp trong kho, mà tôi chưa làm kho ngày nào. Tôi sợ tiếng cửa cuốn kéo lúc hai giờ đêm, sợ thiệt, sợ tới mức giật mình, mà cửa cuốn thì có gì đâu mà sợ. Tay trái tôi biết cách quấn dây điện thành vòng số tám. Tôi thuộc một câu tiếng Hoa, ba chữ, tôi không biết nghĩa.
Chín cái đó tôi coi là nét. Ông già nói nghỉ bốn chục đêm thì rớt. Tôi chưa nghỉ bốn chục đêm liên tiếp lần nào trong sáu năm, nên tôi cũng không biết có đúng không.
Rồi tới cấp ba.
Ký là một khúc đời qua bên mày, và bên kia người ta mất.
Câu hỏi thiệt ra không phải "tôi có cấp ba không". Câu hỏi là: nếu một khúc đời của người khác qua bên tôi, thì tôi lấy gì mà biết? Nó nằm trong đầu tôi, nó nói giọng tôi, nó có đủ mùi đủ vị. Tôi lấy thước nào đo?
Tôi ngồi nghĩ chuyện đó chừng một tiếng, và cuối cùng tôi nghĩ ra được một cách: tôi không đo cái tôi có. Tôi đo cái tôi mất.
Tại vì cái tủ đầy thì nó phải đẩy cái gì đó ra. Cái đó bà Tư Lành không nói, ông già cũng không nói, mà tôi nằm sáu năm thì tôi biết: chỗ chứa nó có đáy.
Tôi lật cuốn tập ra trang mới và tôi bắt đầu ghi mấy chuyện tôi biết chắc là tôi từng có mà bây giờ không còn.
Ghi được mười một cái.
Rồi tôi ghi năm bên cạnh từng cái. Chỗ nào không nhớ năm thì tôi lấy mốc khác mà suy: năm đó tôi ở trọ chỗ nào, năm đó tôi xài điện thoại gì, năm đó bà Chín đã bán cháo ở đầu hẻm chưa.
Ghi xong tôi ngồi coi lại cái cột năm.
2020: một cái. 2021: một cái. 2022: năm cái. 2023: hai cái. 2024: một cái. 2025: một cái.
Năm cái của năm 2022 là như vầy.
Một: giỗ mẹ tôi tháng Mười một. Từ 2016 tới 2021, năm nào tôi cũng về Đức Huệ, năm nào cũng đi xe đò chuyến bốn giờ chiều. Năm 2022 tôi không về. Tôi không nhớ vì sao tôi không về. Tôi cũng không nhớ hôm đó tôi làm gì.
Hai: bà Sáu Nga bên Q.6 có lần gặp tôi ở chợ, bả kêu tên tôi, tôi đứng nói chuyện với bả năm phút mà suốt năm phút đó tôi không biết bả là ai. Chuyện đó cuối năm 2022. Sau này tôi mới ráp lại được.
Ba: tôi đổi cách ghi sổ. Trước 2022 tôi ghi số khách mỗi tuần một lần. Từ 2022 tôi ghi mỗi ngày. Tôi không nhớ vì sao tôi đổi.
Bốn: cuốn tập ghi số khách của tôi bắt đầu từ tháng Ba năm 2022. Cuốn trước đó tôi không giữ. Tôi là thằng giữ hết mọi thứ giấy tờ trong một cái thùng carton, mà cuốn tập đó thì không có.
Năm: manh chiếu.
Manh chiếu tôi đang nằm là chiếu tôi mua năm 2022. Tôi biết chắc năm đó vì bà Tư Lành có ghi trong sổ của bà, ngày mười chín tháng Tư năm hai ngàn hai mươi hai, thêu tên mới, công thêu ba chục ngàn.
Tôi không nhớ tôi mua nó ở đâu.
Chiếu thì tôi mua ở chợ Bình Tây, dãy trong cùng, sạp bà Chín Cói, không phải bà Chín Xoài, một bà khác. Sáu năm nay tôi mua ba manh chiếu và hai manh tôi nhớ rõ: manh đầu năm 2019 mua ở đó, manh thứ ba năm ngoái cũng mua ở đó, mua buổi chiều, trời đang mưa, bà Chín Cói tính tôi rẻ hai chục ngàn.
Manh thứ hai, manh tôi đang nằm mỗi đêm, manh có thêu tên tôi bằng chỉ đỏ ở mép, manh đó tôi không nhớ.
Tôi ngồi trước cái tủ mở toang, đọc lại dòng ba và dòng chín trên tờ giấy dán trong cánh tủ.
Ba. Mẹ tôi tên Nguyễn Thị Bảy, mất năm 2015. Cha tôi tôi không biết.
Chín. Tôi làm chiếu giữa từ tháng 9 năm 2019.
Hai dòng đó tôi đọc mà tôi không cần nghĩ. Nó nằm sẵn ở đó, chắc nịch.
Rồi tôi lật cuốn tập lại, viết thêm một dòng dưới cái bảng năm cấp:
Cấp 3, từ 2022.
Tôi ngồi coi dòng đó một lát, rồi tôi gạch bỏ chữ "từ", viết đè lên: ít nhứt từ.
Chiều đó tôi có kể bà Tư Lành nghe chuyện tờ giấy mười dòng dán trong cánh tủ.
Bà nghe hết, rồi bà nói:
"Cái đó có tên đó bây."
"Tên gì dì?"
"Sổ tự nhận." Bà nói. "Hồi xưa người nằm ai cũng có một cái. Có người ghi ba dòng, có người ghi hai chục dòng. Con Nga bên Q.6 hồi nó còn nằm, nó ghi tới bốn chục dòng, ghi cả cái màu áo nó mặc hôm đám cưới nó."
"Rồi có ăn thua hông dì?"
Bà cầm cuốn tập của tôi lên, lật qua lật lại, rồi bà đưa trả.
"Ăn thua chớ." Bà nói. "Mà nó không giữ bây lại đâu. Nó chỉ cho bây biết bây mất tới đâu."
"Vậy ghi chi cho mệt dì?"
"Thì bây đang ghi đó." Bà nói.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 19 →