🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: [email protected]

Đến chừng biện các khí tà,

Bệnh người mới cảm gọi là trúng thương,

Sách nêu chữ "trúng", chữ "thương".

Cho hay khí độc không thường người xuông.

Lắm cơn mưa gió luông tuồng,

Núi, đầm, khe, suối, độc duồng hơi bay,

Rằng ai gặp ấy chẳng may,

Chứng nào thuốc nấy nhờ tay thấy điều.

Trong là bản, ngoài là tiêu

Ta từng nhận chứng học nhiều bài ca:

Biểu lý nhị chứng ca (Bài ca về hai chứng biểu, lý)

Dịch nghĩa:

Khi phát nóng, sợ lạnh, thân thể đau,

Mạch Phù là thuộc biểu, anh nên nhớ,

Nếu không sợ lạnh, chỉ sợ nóng,

Mạch Trầm, mồ hôi nhiều, thì đúng là lý không còn ngờ gì nữa.

Biên phong thấp chứng ca (Bài ca biện luận chứng phong thấp)

Dịch nghĩa:

Xưa nay vẫn truyền có chứng phong, thấp hợp làm một bệnh.

Hơi thở khò khè, lừ đừ chỉ muốn ngủ,

Trong người thấy nặng nhọc, mạch Phù, hay ra mồ hôi,

Nếu cho uống thuốc phát hãn ắt sinh nói xàm.

Trúng thấp chứng ca (Bài ca về triệu chứng bệnh trúng thấp)

Dịch nghĩa:

Mạch mà Trầm, Hõa là trúng thấp,

Chỉ vì mưa gió, hơi xông lên nhiễm vào,

Đau khắp thân thể và khắp người nổ sắc vàng,

Đại tiện thì nhanh, nhưng tiểu tiện lại khó.

Ôn độc chứng ca (Bài ca về triệu chứng bệnh ôn độc)

Dịch nghĩa:

Bệnh ôn độc toàn thân nổi vằn như gấm,

Phát ban, lên sởi, nôn mửa thường xuyên,

Hoặc có lúc lại trở ho, trong lòng buồn bực,

Đó là mùa đông cảm lạnh mà mùa xuân mới phát ra.

Nhiệt bệnh chứng ca (Bài ca về triệu chứng bệnh nhiệt)

Dịch nghĩa:

Bị cảm mùa hè phần lớn là bệnh nhiệt,

Vốn cùng là một chứng với thương hàn.

Sợ lạnh, thân thể đau và nhức đầu,

Phát nóng lại thêm mạch Hồng mạnh.

Trúng thử chứng ca (Bài ca về triệu chứng bệnh cảm nắng)

Dịch nghĩa:

Đổ mồ hôi trong mùa hè, gọi là cảm nắng,

Mạch Hư, Vi, Nhược, người rất bực bội, khát nước nhiều.

Mạch cáu, lưng lạnh toát, thân thể không đau,

Triệu chứng bên ngoài đại khái tựa bệnh nhiệt.

Kính bệnh chứng ca (Bài ca về triệu chứng bệnh kính)

Dịch nghĩa:

Nguyên bệnh kính là thuốc về bọng đái,

Cấm khẩu giống chứng giản, mình ưỡn cong,

Đó là trúng thương phong, hoặc cảm phải khí hàn thấp,

Cho nên chia gồm hai chứng: nhu kính và cương kính.

Ngư rằng: Hà chỉn sáu hơi,

Nghe nhiều chứng bệnh dưới trời khác nhau,

Sư huynh vào cửa đạo lâu,

Mấy tầng nhà kín, buồng sâu thấy nhằm.

Chứng chi thầy thuốc nhiều lầm,

Có lời ca quyết xin ngâm truyền lòng?

Môn rằng: Ta rất dày công,

Hôm mai lòn lõi theo ông Đan Kỳ.

Tôn sư vốn bậc nho y,

Lòng cưu kinh tế, thiếu gì chước hay.

Thường rằng: Sáu khí ấy xây,

Biến ra muôn bệnh, làm thầy phải lo.

Ra nghề cặn kẽ dạy cho,

Tây cơ ứng biến, tột mò gốc đau.

Mấy lời ca quyết truyền nhau,

Đều thầy ta đặt, trước sau cứu người.

Chứng nào khúc mắc lầm người,

Nay ta tóm kể cho ngươi ghi lòng:

Thương hàn kiến phong bệnh chứng ca (Bài ca về bệnh thương hàn mà có triệu chứng bệnh thương phong)

Dịch nghĩa:

Chứng này lạnh nhiều mà nóng ít,

Không bực bội trong mình, mà tay chân hơi lạnh,

Đó chính là bệnh thương hàn mà có triệu chứng bệnh thương phong.

Mạch thì Hoãn mà Phù, không thể nói khác được.

Thương phong kiến hàn bệnh chứng ca (Bài ca về bệnh thương phong mà có triệu chứng bệnh thương hàn)

Dịch nghĩa:

Chứng này chân tay hơi ấm chớ coi lầm,

Phát nóng, sợ gió, lại thêm trong người bực bội.

Nếu lại thấy mạch đi Phù mà Khẩn,

Đó chính là bệnh thương phong mà có triệu chứng bệnh thương hàn.

Biểu nhiệt lý hàn bệnh chứng ca (Bài ca về triệu chứng bệnh ngoài nóng trong lạnh)

Dịch nghĩa:

Người bệnh ngoài nóng nhưng lại thích mặc áo,

Lạnh ở trong xương, nóng chỉ ngoài da.

Trong lạnh ngoài nóng, mạch đi Trầm, Hoãn,

Tay chân hơi giá, đại tiện lỏng.

(Những chứng âm (lạnh) mà lại phát nóng, Thì thang Tứ nghịch thật đúng là thuốc chữa).

Biểu hàn lý nhiệt bệnh chứng ca (Bài ca về triệu chứng của bệnh ngoài lạnh trong nóng)

Dịch nghĩa:

Mình lạnh lại không muốn mặc áo,

Lạnh ở ngoài da, nóng trong xương tủy.

Ngoài lạnh, trong nóng, mạch đi Trầm, Sác,

Miệng ráo, lưỡi khô, nên rõ như vậy.

(Cho nên lúc gặp chứng về Thiếu âm sợ lạnh, Trong người bứt rứt, không muốn mặc áo, nên dùng thuốc công).

Âm chứng tự dương bệnh ca (Bài ca về bệnh âm chứng tự dương)

Dịch nghĩa:

Âm chứng tựa dương nên nhận rõ,

Buồn bực, bứt rứt, mặt đỏ, mình hơi nóng. Đó là âm lạnh phát buồn bực, nên dùng thuốc ôn (ấm).

Bệnh ấy bộ Xích và Thốn mạch đi Vi và Trầm, nói cho anh biết.

Dương chứng tự âm bệnh ca (Bài ca về bệnh dương chứng tựa âm)

Dịch nghĩa:

Dương chứng tựa âm, lấy gì mà lường biết,

Chân tay lạnh giá, tiểu tiện đỏ,

Đại tiện thì hoặc bón, hoặc đen,

Bệnh ấy mạch đi Trầm, Hoạt, anh nên rõ.

Vưu quyết chứng ca (Bài ca về chứng giun sân)

Dịch nghĩa:

Đói mà chẳng ăn, đó là bệnh giun sán,

Ăn xong lại vì thế mà thổ ra giun.

Đó là vì trong dạ dày vốn bị lạnh tích tụ lại,

Nên dùng thang Lý trung, Tứ nghịch và Ô mai.

Yết hầu bệnh chứng ca (Bài ca về triệu chứng bệnh yết hầu)

Dịch nghĩa:

Phát ban, khạc ra máu là chứng dương độc,

Nếu là chứng âm độc thì trong cổ ắt có mụn.

Bệnh này ra mồ hôi nhiều, các mạch âm dương (Xích Thốn) đều đi Khẩn và Sác,

Phép để trị bệnh đau cổ họng gọi là vong dương.

Thương hàn tổng luận ca (Bài ca tổng luận về thương hàn)

Dịch nghĩa:

Muốn hỏi về bệnh thương hàn,

Trước hết nên định rõ tên.

Dương kinh phần nhiều mình nóng,

Âm chứng ít bị nhức đầu.

Bổ dương nên dùng thuốc chín,

Thuốc tốt, sống chẳng hề gì.

Rành rành việc trong lòng,

Xa xa dưới đầu ngón tay.

Sách Bách vấn quả đã rõ ngọn ngành,

Sách Thiên kim nên lấy làm khuôn mẫu,

Các bậc danh hiền nghĩ cách giúp đời,

Tên đã chua trong sách tiên.

Phát cuồng bệnh chứng ca (Bài ca về triệu chứng bệnh phát điên)

Dịch nghĩa:

Bứt rứt, buồn bực, nói nhảm, mặt đỏ,

Nóng dữ, cổ đau gọi là Trùng dương.

Lại chữa bằng phép chữa dương độc,

Dùng các vị Đình lịch, Thăng ma và Đại hoàng.

Hoắc loạn bệnh chứng ca (Bài ca về triệu chứng bệnh hoắc loạn)

Hết Chương 18

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 19
← TrướcTiếp →