🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: [email protected]

Bệnh cả hai kinh dồn lại làm một.

Nếu còn chứng về Thái dương thì nên làm ra mồ hôi (phát hãn),

Nếu không còn chứng về Thái dương thì nên dùng phép hạ (xổ).

Biểu bệnh chứng ca (Bài ca về triệu chứng các bệnh thuộc biểu)

Dịch nghĩa:

Phát nóng, sợ rét là chứng biểu,

Mạch Phù, đau mình là thuộc kinh Thái dương.

Sợ rét ấy là biểu hư,

Dùng thuốc phát biểu nên xét rõ nặng nhẹ.

Mùa xuân, dương khí còn kém và yếu,

Nếu dùng thuốc phát hãn (làm ra mồ hôi) quá thì âm sẽ thắng,

Mùa đông, dương khí nấp sâu ở trong thì phát hãn là đúng.

Nếu dùng thuốc nhẹ thì bệnh không khỏi.

Lý bệnh chứng ca (Bài ca về triệu chứng các bệnh các bệnh thuộc lý)

Dịch nghĩa:

Mạch của chứng lý, Trầm mà Hoạt,

Không sợ lạnh chừ, lại sợ nóng,

Lòng bàn tay và dưới bụng mồ hôi dầm dề,

Cổ ráo miệng khô, phân táo kết,

Bụng đầy, bị suyễn, có khi nói sàm,

Đại tiện không đều, càng lúc càng nóng,

Ấy là nóng ở trong, đúng là bệnh lý thực,

Đó là các chứng thuộc kinh Dương minh, nên dùng thuốc hạ (xổ)

Luận biểu lý tạng phủ sở thuộc ca (Bài ca luận về các bệnh biểu lý thuộc tạng phủ)

Dịch nghĩa:

Các chứng bệnh ở bọng đái, dạ dày và mật thuộc về dương,

Các chứng bệnh ở lá lách, thận và gan thuộc về âm,

Mạch Phù, Trường, Huyền thuộc dương, mạch Tế, Trầm, Vi, Hoãn thuộc âm.

Trước hãy xem mạch và chứng thuộc về biểu hay lý.

Trong ngoài hợp chứng tỏ truyền,

Phải coi vận khí theo niên đổi dời,

Năm vận, sáu khí ở trời,

Năm tạng, sáu phủ ở người ứng nhau,

Cho hay năm vận chủ đau,

Sáu khí lâm bệnh, trước sau có lề,

Bởi câu "khí vận bất tề"

Khiến dân bệnh hoạn trách về thấy lo.

Chưa thông vận khí khôn mò,

Nhóm lời ca quyết đọc cho biết đáng.

Cơ bênh ngoại cảm ôn thử thương hàn Hà Giản Lưu tiên sinh ôn thử soạn yếu (Nguyên nhân các bệnh ngoại cảm - ôn thử thương hàn. Tóm tắt bài soạn về ôn thử của ông Lưu Hà Giản)

Dịch nghĩa:

Các chứng phong, co giật, choáng váng thuộc về can mộc.

Các chứng đau, ngứa nhọt, lở thuộc về tâm hỏa.

Các chứng thấp, thũng, đầy vốn thuộc về tỳ thổ.

Các chứng tức, uất, mòn mỏi thuộc về phế kim.

Các chứng lạnh, co rút thuộc về thận thủy.

Đó là danh mục chủ yếu các bệnh do ngũ vận gây ra.

Các chứng bất thình lình bị cứng thẳng chân tay,

Gân cốt co lại hay mềm oặt thật nhanh,

Vốn thuộc hai kinh Túc chủ về gan và mật,

Do khí Quyết âm phong mộc gây ra.

Các chứng thở khò khè, ợ và nôn ra nước chua,

Thình lình ỉa chảy như rót nước, có khi bị chuột rút,

Tiểu tiện đục như có cặn, lẫn cả những tia máu,

Nổi hạch, nổi nhọt, phát ban, lên sởi,

Ung thư, thổ tả do bị chứng hoắc loạn,

Trong người bực bội, phù thũng, mũi nghẹt và khô,

Chảy máu cam, đái rát, mình phát nóng.

Sợ lạnh, phát run, hay giật mình hoảng hốt,

Khi cười, khi khóc, nói sàm, mất máu,

Bụng chương lên, vỗ vào có tiếng bồm bộp.

Đó là do khí Thiếu âm quân hỏa gây ra,

Lỗi của hai kinh Thủ chủ về tim và ruột non.

Các chứng chi và người cứng đơ, hay tích muốn thành trệ,

Hoắc loạn, đầy do các chứng cách, bĩ,

Trong mình thấy nặng nhọc, thổ tả, chân sưng,

Thịt phù mềm, như bùn, ấn vào lõm xuống không nổi lên,

Đó là do khí Thái âm thấp thổ của hai kinh Túc,

Chủ về lá lách và dạ dày gây ra.

Các chứng nóng, mê man, vật vã, gân giật giật,

Hồi hộp, co giật, lăn lộn quá mức,

Thình lình cấm khẩu, hôn mê, bứt rứt, điên cuồng,

La thét, hoảng sợ, hơi xông ngược lên.

Đùi sưng đau ê, hắt hơi, mửa, phát lở,

Cổ họng buốt, tai ù tưởng chừng điếc đặc.

Lợm mửa, ăn uống không thể nuốt trôi,

Mắt mờ, nhìn không rõ, kéo màng, thịt giật,

Hoặc là phát run, nói ngọng, ngơ ngác như mất hồn,

Đau thình lình, tả lỵ thình lình.

Đó là do khí Thiếu dương tướng hỏa của hai kinh Thủ,

Chủ về màng tim và tam tiêu gây ra,

Các chứng khô, cạn, sáp, bí

Cứng ráo, da rộp lên,

Đều do khí Dương minh táo kim,

Chủ về hai kinh thuộc phổi và ruột già gây ra,

Nước dãi và nước tiểu trong và lạnh.

Bị khối u, sa đì, báng đều rắn,

Đầy bụng, đau gấp, đại tiện chỉ có nước,

Ăn uống không thấy đói, thổ tả đều có mùi tanh.

Co duỗi khó khăn, thấy lạnh giá,

Lạnh giá, bế tắc thuộc về kinh Thái dương,

Chủ về thận và bọng đái tức là khí hàn thủy gây nên.

Âm dương, gốc ngọn chỉ trong vòng lục khí.

Phong, hỏa, thử thấp táo hàn,

Bốn mùa qua lại, chàng rằng hơn thua.

Khí nào hơn lại vẽ bùa,

Khiến hơi tà nghịch theo lùa làm đau.

Người cùng trời đất ứng nhau,

Khí mùa chẳng chính, chứng đau không thường,

Ngoại rằng cảm, nội rằng thương,

Ngoài tiêu trong bản, âm dương khác phần.

Từ ngoài sáu phủ vào lần,

Đến trong năm tạng, tinh thần chẳng an.

Thử xem một chứng thương hàn,

Tạng nào mạch nấy, chia bàn tử sinh.

Tâm can, tỳ, phế, thận danh,

Noi trong sinh khắc năm hành đoán ra,

Giả như tâm hỏa chịu tà,

Vì nơi thận thủy đắm sa gây loàn.

Lấy hai tạng ấy so bàn,

Thổ tỳ, kim phế, mộc can cũng vầy.

Thương hàn ngũ tạng thụ bệnh ca (Bài ca về bệnh thương hàn mà ngũ tạng bị bệnh)

Dịch nghĩa:

Nhói tim, lưỡi cứng, cười thì mặt đỏ lên.

Bực bội, bàn tay nóng, miệng ráo,

Trên rốn động hơi, mạch nên Hồng, Khẩ, Sác,

Nếu đi Trầm, Vi, thì mạng không toàn.

(thủy khắc hỏa)

Bệnh gan thì mặt xanh, mắt đau, nhắm,

Gan co, vẻ giận dữ, bên trái rốn thấy tưng tức,

Mạch nên Huyền và Trường

Nếu Phù, Sắc, Đoản đều không chữa được!

(kim khắc mộc)

Bệnh tỳ thì không ăn, da mặt vàng,

Mình nặng, chân tay đau, thích nằm liệt giường,

Hơi động giữa rốn, mạch nên Hoãn và Đại,

Huyền, Trường và Khẩn ấy là tai ương.

(mộc khắc thổ)

Bệnh phổi thì mặt nhợt, vẻ lo buồn,

Thở dốc, đổ máu cam, nóng rét, ho, suyễn.

Thấy tưng tức ở bên phải rốn, mạch nên Trầm, Tế, Sắc,

Đại mà Lao là căn do của sự chết!

(hỏa khắc kim)

Bệnh thận thì mặt đen, móng tay, móng chân xanh,

Chân lạnh bụng đau, trong tai ù,

Hơi động dưới rốn, mạch nên Trầm, Hoạt,

Hoãn mà Đại là tình tạng chết.

(thổ khắc thủy)

Ấy rằng của đệ nhất quan,

Chứng nào chẳng bởi thương hàn gây ra.

Hết Chương 17

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 18
← TrướcTiếp →