Que than chạy trên mặt tấm ván vụn, để lại một nét đen thô. Con Mẹt ngồi xổm ở bậc bếp, lưỡi thè ra một chút, tay nắm que than như nắm đục. Kình ngồi bên cạnh, hai khuỷu tay chống đầu gối.
"Nét ngang trước," nó nói. "Rồi nét sổ."
"Biết rồi."
"Biết sao còn viết ngược?"
"Tao có viết ngược đâu." Mẹt gạch thêm một nét ngang. "Sao nét sổ dài hơn nét ngang?"
"Vì chữ đó là cái cây. Sổ là thân, ngang là cành."
"Cái cây có cành ngang mà không có lá?"
"Hai nét còn lại là lá."
"Vậy sao không gọi là chữ cây?"
"Gọi là mộc. Cây là tiếng mình, mộc là tiếng chữ."
"Chữ lằng nhằng." Mẹt viết nét thứ ba, nét phẩy, đẹp hơn cả Kình. Ba nét đầu đều tay. Tới nét thứ tư, nét mác, nó đè mạnh quá, que than chọc thủng đáy chữ như chọc đục.
Mẹt nhìn cái lỗ đen. Kình nhìn cái lỗ đen.
"Nét đó chưa quen," Kình nói.
"Quen rồi." Mẹt hất cằm. "Đổi. Tới lượt tao."
Nó kéo Kình sang một khúc gỗ thừa, đặt xuống đất một cây đục lá và cây dùi cui. "Đục mộng vuông. Mày làm."
Kình cầm đục. Nó đặt lưỡi vào đúng chỗ vạch bằng than, giơ dùi cui. Dùi cui đáp xuống lệch, cán đục trượt, mũi đục chạy chéo một đường. Gỗ bắn lên một mảnh.
"Dừng." Mẹt chộp lấy cổ tay nó. "Mày đóng như đập muỗi."
"Tui đóng thẳng mà."
"Thẳng của mày là thẳng của ai?"
Kình đóng thêm ba nhát. Cái lỗ mộng méo, một góc thành hình thang. Mẹt cúi nhìn rất lâu rồi lắc đầu.
"Mộng này cái nào lắp vào cũng lỏng. Như chữ mày viết."
"Chữ tui đâu lỏng."
"Chữ mày viết đứng dậy bằng một chân."
Bà Hợi đi ngang, tay xách rổ rau muống, nhìn cái lỗ mộng méo, bật cười. "Con ơi, lỗ mộng méo thì đem làm chuồng gà."
"Bà Hợi!" Mẹt kêu.
"Chuồng gà cũng cần cái cửa. Cửa méo gà chui càng nhanh." Bà xách rổ đi tiếp, vẫn cười.
Nó thử đóng thêm một cái lỗ khác. Lần này nó nhìn kỹ đầu dùi cui, nhìn mặt đục, thở ra rồi mới giáng xuống. Gỗ vỡ ra một mảnh vuông, gọn. Mẹt nhìn, nheo mắt.
"Được nửa."
"Nửa nào?"
"Nửa trên. Nửa dưới vẫn méo."
"Sao mày biết?"
"Tao nhìn cái đáy." Mẹt gõ ngón tay vào lỗ. "Đáy là chỗ mộng đực ngồi. Đáy méo thì đực nằm không yên."
"Nói như bà mối."
"Bà mối còn biết đo hơn mày." Mẹt cười, lần này cười thật, lộ cái răng khểnh. "Thôi. Mai tao dạy chữ thứ hai."
"Mai tui dạy mày chữ thứ hai."
"Ừ, tao nói ngược."
Ngãi ngồi trên đống gỗ ngâm ở bến Tre Ngâm, hai chân thõng xuống nước, nhai cọng rau. Kình ngồi cạnh. Nó hỏi như hỏi chuyện chơi.
"Anh Ngãi, dinh quan Đàm dựng xong mà phường không làm lễ hả?"
"Lễ nào?"
"Lễ gì đó khi xong nhà."
"Lễ đưa dăm tống mộc." Ngãi khoa tay. "Nhà nào làm xong cũng làm. Chủ đãi thợ một bữa. Thợ đem nắm dăm bào giữ từ ngày phạt mộc ra, tống đi."
"Tống đi đâu?"
"Đốt hay thả sông, tùy nhà. Để cây gỗ biết là xong, về." Ngãi nhún vai. "Chuyện các cụ kể. Tôi chưa làm lần nào."
"Dinh Đàm không làm."
"Không." Ngãi nhổ cọng rau xuống nước. "Dựng xong, chủ dọn vào, thợ về. Công đợt cuối không ai trả."
"Nắm dăm giờ ở đâu?"
"Ai biết. Chuyện các cụ." Gã nhìn quanh, rồi hạ giọng. "Đừng hỏi cụ Khoan. Cụ ho đấy."
"Em không hỏi."
"Cậu đã hỏi tôi rồi."
"Hỏi anh khác với hỏi cụ."
Ngãi cười hở lợi. "Cậu lanh đấy."
"Anh biết vì sao dinh không làm lễ không?"
"Chủ không muốn đãi." Ngãi kéo chân lên khỏi nước, rũ rũ. "Đãi thợ một bữa thì tốn. Không đãi thì để nợ."
"Nợ gì?"
"Nợ cái bữa đó. Nghe các cụ bảo, nợ bữa đó cũng như nợ công." Gã đứng dậy, vươn vai. "Tôi nghe lại thôi. Cậu hỏi sâu quá, tôi trả lời hết nổi."
"Dạ, thôi."
"Ngói đợt sau về chưa?"
"Chưa. Chú Tạo bảo chờ."
"Thế thì ngủ đi cho khỏe." Gã đập vai nó. "Mai còn vác."
Kình về bếp chung gánh nước. Trong bếp, Cộc ngồi trên bậc củi và ông Táo nhỏ thó đứng trên đầu rau, cầm cái thước tre chỉ vào mặt nhau. Hai bên cãi như hai ông già trong quán trà.
"Năm nay lão không lên thì sao?" Cộc hỏi.
"Năm ngoái không lên thì trên mù một tháng." Ông Táo giơ thước. "Năm nay không lên thì không biết trên có mù không."
"Mù thì mù. Ai bắt mày lên?"
"Không ai bắt." Ông Táo hạ thước xuống, giọng nhỏ hẳn. "Thế mới sợ."
"Thế thì lên," Cộc nói.
"Lên thì lên cái gì? Lên nói với Thiên Tào là xóm này ăn thịt lợn ngày rằm?" Ông Táo xoay cái thước trong tay. "Tôi lên thì có gì báo. Xóm này sống khổ. Báo khổ thì họ ghi khổ, ghi khổ rồi cũng thế."
"Vậy báo vui."
"Vui đâu mà báo."
Cộc nhìn ông. Bàn tay duy nhất của nó vẫn chống trên đầu gối.
"Mày sợ cái gì?"
"Sợ người ta không bắt nữa."
Kình đứng ở cửa bếp, thùng nước trong tay. Nó định nói chen, nhưng thấy hai ông già đã ngừng lại, nhìn lửa. Nó đặt thùng nước xuống rồi ra ngoài, không chen.
Đêm, Kình dậy đi tiểu. Trăng sáng, sân nhà chung trắng như vôi. Nó đi ngang cửa thì thấy ánh đèn dầu lọt qua khe. Nó dừng, nép vào khung cửa.
Cụ Khoan đứng một mình trước bàn thờ tổ. Lưng còng, mắt trái trắng đục lấp lánh dưới ánh đèn. Trong lòng cụ, ống tre đen bóng, nút lá chuối khô, được ôm như người ta ôm một đứa nhỏ đang ngủ. Cụ không thắp hương. Cụ đứng yên.
Kình đứng nép, thở không dám mạnh. Bóng nó đen dài trên nền sân.
Một lúc lâu, cụ Khoan cúi đầu một cái. Rồi cụ quay đi, với tay treo ống tre trở lại cột, bám tay lên đầu gối mà lê chân về.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 10 →