Kình ôm một nắm đục cùn, lưỡi sứt mẻ, cán nứt, đi dọc dãy xưởng tối sang chỗ cụ Khoan. Ngãi sai nó đi, như mọi đêm. Rằm tháng Ba, trăng tròn sau mái lá, sáng tới mức thấy cả vân gỗ trên cột.
Cụ ngồi xếp bằng trước phiến đá mài, chậu nước bên cạnh phản chiếu mặt trăng. Cụ không ngẩng đầu.
"Để xuống."
Kình đặt nắm đục xuống chiếu. Cụ cầm cái đầu tiên, đưa lên sát mắt phải, nhìn lưỡi. Mắt trái trắng đục nhìn vào đâu đó trên vai Kình. Cụ lật cái đục, đặt lên đá, đẩy một lượt. Nước xám chảy xuống chậu.
"Ngồi."
Kình ngồi xổm bên cạnh. Hai bàn tay già đẩy lưỡi đục trên đá ướt, đều, chậm, tiếng mài sàn sạt như ai đang thở. Một lúc lâu cụ không nói gì. Rồi cụ nói, không nhìn nó, như nói với đá.
"Ông Tổ có một cây thước."
"Dạ?"
"Hồi xưa, vua nước ấy ngầm cho người rút ngắn cây thước của ông. Ông không biết. Ông cứ dựng. Dựng xong, cung điện bền hơn mọi cung điện khác."
"Sao bền hơn vậy cụ?"
"Vì ông đo bù." Cụ mài thêm một lượt. "Thước ngắn thì thợ biết thước ngắn. Người rút thước tưởng thợ không biết."
"Thợ biết?"
"Thợ nào cầm thước cả đời mà không biết nó ngắn?"
"Nhưng thước rút bao nhiêu thì làm sao biết?"
"Biết bằng tay. Tay thợ ghi nhớ hơn mắt." Cụ giơ bàn tay lên trăng, xoay xoay. "Tay tôi biết cái đục nào nặng hơn thường ngày. Tay thợ cả biết thước nào ngắn một sợi tóc. Không cần ai dạy."
"Còn ông Tổ làm sao?"
"Ông đo bù một sợi tóc. Rồi hai sợi. Rồi cả thước." Cụ mỉm cười, nụ cười méo của người ít cười. "Bù tới mức người rút thước cũng không dám rút nữa."
"Vì sao?"
"Vì rút nữa thì nhà dựng không nổi, mà nhà không nổi thì ai chịu tội?"
Kình nghĩ một lúc. "Người dựng."
"Ừ. Người dựng chịu."
Kình im. Cụ cầm một cái đục khác, lưỡi sứt sâu, đưa lên mắt.
"Thợ làm gì khi biết?" Kình hỏi.
"Đo bù. Đo bù thì nhà vẫn đứng." Cụ đặt lưỡi lên đá. "Nhà vẫn đứng thì người rút thước được lợi. Người rút thước được lợi thì lần sau rút nữa."
"Vậy đo bù là sai?"
"Đo bù là cứu cái nhà. Đo bù không cứu thợ."
Cụ ho. Tiếng ho khan, rung lưng. Cụ chống tay xuống chiếu, chờ tiếng ho qua, rồi đẩy lưỡi đục tiếp một lượt. Kình nhìn bàn tay cụ, gân xanh nổi như dây thừng.
"Cụ," nó nói. "Con muốn hỏi về dinh quan Đàm."
Cụ không đáp. Cái đục dừng trên đá.
"Thằng bé trong ấy mấy tuổi?"
"Dạ, chừng bảy tuổi."
Cụ mài lâu hơn một lượt, nước đá chảy dài. Trăng đã nghiêng, bóng cụ in dài trên nền đất.
"Ba mươi hai năm trước," cụ nói, "tôi có một đứa con bảy tuổi."
Kình nín thở. Cụ không nhìn nó.
"Thằng bé ấy đói. Đợt công cuối không phát. Cai thầu bảo đợi. Đợi thì nó ăn gì." Cụ đặt cái đục xuống.
"Cụ..."
"Tôi không ếm người." Cụ nói nhỏ, như nói thầm với chính mình, đều như một câu đã thuộc. "Tôi ếm cái nhà."
Kình nghe chữ "tôi". Bàn tay cụ khựng lại trên đá, rồi nhấc xuống, đặt cái đục nằm yên cạnh chậu nước.
Không ai nói gì. Phía xa, tiếng dế kêu lẫn tiếng sông.
Trăng lên cao hơn một chút. Trên mái xưởng, một con tắc kè kêu hai tiếng rồi im.
"Cụ nói chuyện con trai cụ với con làm gì?" Kình hỏi khẽ.
"Mày hỏi."
"Con hỏi dinh quan Đàm."
"Thì tôi trả lời." Cụ lại ho, ho ngắn. "Hỏi cho đúng chỗ thì trả lời cho đúng chỗ. Mày hỏi thằng bé trong ấy mấy tuổi, tôi đáp tuổi."
"Dạ."
"Mày đừng kể với ai là tôi nói."
"Dạ, con không kể."
"Với ông Cả cũng đừng."
"Ông Cả biết rồi, cụ."
"Biết là biết. Nói ra là nói ra." Cụ dịch chậu nước lại gần. "Thợ nào cũng vậy. Biết nhiều chuyện mà không ai nói ra."
"Cụ mệt thì con đi," Kình nói.
"Đi đi."
Nó đứng dậy, cúi chào. Cụ không đáp. Kình quay lại bậc cửa xưởng, ngồi xuống cạnh Cộc đã chờ sẵn.
"Cụ nói gì?" Cộc hỏi.
"Cụ ếm cái nhà đó."
"Tao đoán rồi."
"Cha đoán từ hồi nào?"
"Từ hồi cụ ho đúng lúc ông Cả nói người ấy chết rồi." Cộc chùi mũi. "Ho không tự nhiên vậy đâu."
Kình bó gối, nhìn trăng. "Bùa Khoa Bút đúng thể thức, có dấu, có chữ. Không ăn. Cái của thợ không dấu, không chữ. Nó ăn ba mươi hai năm."
"Thì nó cũng là một thứ sắc."
"Sắc ai cấp?"
Cộc hất cằm về phía nhà chung, chỗ ngọn đèn bàn thờ le lói. "Ông đó."
"Giám có đọc được sắc của ông đó không?"
"Giám đọc không được thì Giám kêu là không có thể thức."
"Vậy ai đọc?"
"Thợ đọc." Cộc nhìn thẳng. "Thợ nào cũng đọc."
"Con đọc không được."
"Mày nghe được."
"Cha có nghe cái nhà đó như con nghe không?"
"Không. Tao nghe tiếng gỗ."
"Vậy cha tin con à?"
"Tao tin mày." Cộc nói gọn. "Còn tin cái nhà thì chưa."
"Vì sao?"
"Vì nó đếm ba mươi hai năm mà chưa mệt."
Kình nhìn cha. Cộc không đùa, không cười. Nó chỉ ngồi đó, lông ánh bạc dưới trăng.
Nó đứng dậy định ra chỗ phản. Nhưng chân nó dừng. Một tiếng động sau lưng, nhẹ, chiếu sột soạt. Nó quay đầu.
Cụ Khoan đã đứng dậy. Cụ với tay ra sau lưng, gỡ cái ống tre khỏi cột. Cụ lắc nhẹ một cái bên tai mình. Trong ống có tiếng kim loại khua khô khốc, lẫn tiếng sột soạt như lá.
Cụ đặt ống tre lên đùi khi ngồi xuống lại, hai bàn tay úp lên nắp.
"Mai mày qua đây," cụ nói. "Ban ngày."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 11 →