Khuê nhúng ngòi bút vào nghiên, ghi số hồ sơ vào sổ nhập kho. Chữ vuông vắn, mỗi nét nằm đúng chỗ. Sợi chỉ đỏ quấn cổ tay trái quệt qua mép giấy. Cô kéo ống tay áo xuống che nó, rồi lại kéo lên, vì ống tay áo che làm mực dễ lem.

Kho sổ Sùng Văn Giám lúc mồng mười tháng Ba tối hơn mọi hôm. Giá gỗ cao tới sát xà, hồ sơ chất kín. Một ngọn đèn dầu trên bàn, một cái bóng cô in lên giá sổ, cúi xuống rồi ngẩng lên.

Ông thư lại già giữ chìa kho đặt xuống bàn một xấp hồ sơ buộc dây. Chùm chìa đồng ở thắt lưng ông khua lên một tiếng.

"Lưu, không giải," ông nói. "Cô chép bìa từng tập."

"Dạ, thưa ông."

Khuê cởi dây. Tập thứ nhất, thứ hai là việc xóm làng mất sắc, giấy đã ố. Tập thứ ba bìa vàng, nét chữ còn mới. Cô chép: Dinh Đàm, bến Tre Ngâm, xin giải bùa thợ. Khoa Bút đóng bùa giải ba lần, không ăn.

Bên lề có dòng ghi chú tay của một Học quan đi giải, nét gấp gáp như viết trong lúc đứng. Bùa không có thể thức. Không đọc được.

Khuê đọc dòng ấy hai lần. Ngón tay cô dừng ở chữ "không".

"Thưa ông."

"Cô hỏi."

"Không đọc được thì sao gọi là bùa ạ?"

Ông già ngẩng lên. Mắt ông mờ, đeo kính trễ mũi, nhưng nhìn người rất thẳng. "Nó làm việc của bùa thì gọi là bùa."

"Giám không giải được thì sao ạ?"

"Thì lưu."

"Lưu là giải sao ạ?"

Ông già cười, kéo ngăn kéo bàn ra, lấy một cái khăn lau kính. "Ở kho này, lưu là giải. Cô ở đây lâu thì biết."

"Con xin ông chỉ cho: hồ sơ lưu rồi thì ai đọc?"

"Không ai."

"Vậy giải ở đâu ạ?"

"Ở chỗ nó nằm." Ông đặt kính lên mũi, nhìn cô qua hai tròng thủy tinh dày. "Cô Vũ, ta nói thật. Giải không giải là việc ở trên. Cô chép bìa cho đúng, thế là tròn phận."

"Học quan đi giải ghi chú bằng nét gấp. Ông ấy có sợ không ạ?"

"Ông ấy vội." Ông già nhún vai. "Học quan giải bùa thường vội. Về trễ thì lỡ bữa."

"Ba lần giải, ba lần bong. Bong ở đâu ạ?"

"Ở góc. Góc giấy quắn lại, như lá khô." Ông chỉ vào dòng bên lề. "Cô thấy chữ nào không ghi thì là chữ không ai muốn ghi."

"Con hiểu."

"Cô không hiểu. Cô mới nghe." Ông không giận, giọng vẫn khàn khàn. "Hiểu là chuyện mười năm."

Khuê gật. Cô cúi xuống tờ trình gốc kẹp trong tập. Dinh dựng ba mươi hai năm trước, chữ ghi gọn: thợ phường Kim Mộc dựng. Cô chưa nghe phường này bao giờ. Cô không biết nó nằm ở đâu, ngoài cái tên nằm trong một dòng giấy.

Cô lấy một mẩu giấy riêng, chép tên phường lên đó, gấp lại. Cô vẫn ghi như vậy những câu cô chưa hiểu: một mẩu giấy cho một câu, gấp tư, giữ trong tráp.

Gần trưa, ông già mở ngăn dưới cùng và lấy ra một cuốn sổ bìa chàm, mép sờn.

"Cô cất cuốn này vào ngăn trong cùng."

Khuê nhìn bìa. Cô nhận ra bìa sổ, nhận ra nếp gấp ở góc. Cô đã thấy cuốn này trên một tấm ván kê, trong một gian nhà sàn.

"Sổ tuần vùng của thầy Đức," ông nói. "Học chính Lưu nộp về đối chiếu. Nhãn: chờ xét."

"Thưa, bao giờ xét ạ?"

"Khi Ty Khảo Xét xếp lịch."

"Con xin phép được xem?"

"Không." Ông nói nhẹ nhàng. "Sổ chờ xét thì không ai mở."

Khuê không mở. Cô nhận cuốn sổ bằng hai tay, như thầy Đức từng cầm. Cô bước tới ngăn trong cùng, đặt nó nằm ngang, khóa lại bằng chìa ông giao. Cô đứng đó thêm một lúc, tay còn đặt trên ổ khóa.

"Còn Học chính Lưu thì sao ạ?" cô hỏi, không quay lại. "Hôm nay con chưa thấy ông về kho."

"Học chính Lưu không về kho nữa."

"Dạ?"

"Được Tế Tửu giao việc khác."

"Việc gì ạ?"

"Không ai nói." Ông nhún vai. "Ở đây ít khi có người nói."

Khuê quay lại. Ông già đã cúi xuống xấp hồ sơ khác, bàn tay đặt trên bìa, bình thản như chưa nói gì.

Cô trở lại bàn, chép nốt ba tập còn lại, tập nào cũng đóng dấu "lưu" bằng mực son. Ông già đi quanh giá sổ, kiểm bìa, thỉnh thoảng đặt cuốn nào ngược lên cho ngay.

"Cô viết nhanh."

"Dạ, con viết đều. Thưa, nhanh thì chưa."

"Đều là được rồi." Ông liếc mẩu giấy cô vừa gấp. "Cô ghi riêng à?"

"Dạ, con ghi chỗ con chưa hiểu."

"Giữ ở đâu?"

"Trong tráp ạ."

"Giữ cho kỹ." Ông không nói thêm. Ông quay đi, tiếng chìa khua dọc giá sổ.

Chiều, Khuê ôm tráp đi qua cổng Giám. Nắng nghiêng, dãy cột gỗ bóng như dầu. Ở cột thứ hai có một tờ giấy trắng mới dán đè lên tờ cũ đã bạc, hồ chưa khô hẳn. Truy nã tội phạm gọi chui, tên Kình, không họ. Dưới cùng, một ô vuông son đỏ, bốn cạnh thẳng, giữa trống trơn.

Một người lính gác cổng đứng cạnh cột, tay chống giáo, ngáp.

"Cô Vũ về sớm."

"Thưa, kho đã đóng sổ."

"Cô đọc giùm tôi tờ này được không? Tôi chưa biết chữ nhiều."

"Thưa, tờ yết ghi tội gọi chui và một cái tên. Có thưởng cho người bắt được." Cô nói đều, không nhìn tờ giấy. "Tôi xin phép."

"Cô chờ." Anh ta gãi tai. "Cái ô đỏ ở dưới là gì?"

"Thưa, dấu nhận dạng."

"Sao trống?"

"Thưa, tôi không biết."

Cô cúi chào, bước tiếp đúng nhịp như mọi ngày. Cô không quay đầu.

Qua cổng rồi, cô mới đếm. Tờ thứ ba cô đi ngang trong ngày. Một tờ ở cổng trước, một tờ ở nhà ăn, một tờ này. Tên nó ở ba chỗ, dán bằng cùng một loại hồ.

Tối, ở viện riêng, Khuê thắp một ngọn nến. Cô mở tráp, lấy mẩu giấy ra. Mẩu có chữ phường Kim Mộc, mực khô. Cô nhúng bút, ghi thêm bên dưới: lưu là giải. Nét bút thẳng, chấm đầu chữ "giải" không nghiêng.

Dưới đáy tráp, góc sắc giả cháy từ Vàm Tre vẫn nằm trong lớp giấy dầu nâu, buộc dây. Cô nhìn nó một lúc. Rồi cô đặt mẩu giấy mới lên trên, đậy nắp, không mở lớp giấy dầu.

Hết Chương 8
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 9 →
← TrướcTiếp →