Sáng mười bảy, trước giờ vào ca, Kình ngồi xổm sau lò rèn, nơi lửa chưa nhóm, chỉ còn mùi tro nguội. Nó trải mẩu giấy chép đường rạch gấp tư lên đầu gối, mép giấy mềm vì đã mở ra gấp lại không biết bao nhiêu lần. Mấy dòng trên cùng là đường rạch về Vàm Tre, nét than cũ. Dưới đó còn một khoảng trắng.
Nó cầm mẩu than, viết thêm, chậm, từng chữ, ngón tay hơi cứng vì đêm lạnh.
Bếp nhà Piên: khói củi, men lá, nồi chàm.
Cộc ngó xuống từ vai nó.
"Mày viết gì?"
"Ghi món ăn."
"Món ăn gì mà ghi bằng than?"
"Than sẵn."
"Giấy cũng sẵn." Cộc nghiêng đầu, mắt hấp háy. "Mày chưa bao giờ ghi món ăn."
"Thì giờ ghi."
"Ghi để làm gì?"
"Ghi để có."
"Có cái gì?"
"Con cũng không biết." Kình xoay mẩu than trong ngón tay. "Con ghi, rồi con biết."
"Mày nói chuyện giống ông Cả."
"Ông Cả nói ít hơn con."
"Ông Cả đo bằng thước, mày đo bằng than. Khác chỗ nào."
"Than thì mau hết."
Cộc im một lúc. Tay nó gãi gãi vào khúc cụt, rồi nó nói, nhỏ hơn.
"Ghi luôn con cá rô bữa ở bến. Nửa đầu của tao."
"Cha nhớ mà."
"Tao nhớ. Mày ghi."
Kình nhìn Cộc, rồi cúi xuống giấy. Nó viết thêm một dòng, nét than đen dày hơn: Cá rô nướng ở bến sông Cái. Cha ăn nửa đầu.
"Đúng chỗ," Cộc nói.
"Chỗ nào?"
"Chỗ này." Cộc chỉ vào giấy. "Mày gấp lại đi, kẻo gió thổi."
Kình gấp mẩu giấy làm tư, nhét vào bọc vải nâu giắt lưng, cạnh con dấu sừng và túi vải chàm. Nó thắt hai nút bằng sợi chỉ đỏ, giật thử. Chắc.
Tiếng hô vang lên từ phía bến sau kho giấy. Bè gỗ mùa mới về.
Thợ chạy ra, Kình chạy theo. Bến sau kho giấy là một khoảng bờ sông rộng, đất nện, mấy cây cọc lim đóng sâu xuống nước. Cả bè gỗ cập vào cọc, dây thừng căng như dây cung, nước dưới bè đục màu nâu, lềnh bềnh lá khô và mùn cưa. Mùi gỗ tươi bốc lên nồng, mùi của rừng đã bị chặt, ngọt và ẩm như mùi vết thương mới. Gỗ lim, gỗ mít già, thân to hơn vòng tay hai người, vỏ còn sẫm màu bùn. Có khúc còn dải vải đỏ buộc ở gốc, đỏ tươi, chưa bạc, như vừa buộc hôm qua.
"Chú Mái Chèo, vào hàng!" Ngãi gọi. "Chân chú đâu rồi?"
"Chân tui ở đây."
"Ở đây là ở sau lưng tôi. Lên trước đi!"
"Trước là chỗ nào?"
"Chỗ nào có dây thì chỗ đó trước."
Kình chen vào hàng, nắm dây thừng. Sợi thừng thô, sượng, nóng hổi vì nắng sớm và vì bao nhiêu bàn tay đã nắm.
"Kéo!" Ngãi hô nhịp. "Hò dô ta!"
"Hò dô!" thợ đáp.
Hàng chục bàn tay nắm dây thừng, kéo từng nhịp. Bè gỗ nhích vào bờ, nước vỗ vào thân gỗ nghe òng ọc. Ông Cả đứng cạnh cọc neo, gõ ngón tay lên từng khúc đi ngang, tai nghiêng, nghe thớ. Khúc nào ông gật thì thợ đánh dấu bằng vôi.
Kình đi theo hàng người kéo. Nó dừng lại bên khúc có vải đỏ. Nó đặt tay lên.
Gỗ ấm. Ấm như người vừa chạy xa. Rồi gỗ co lại dưới bàn tay nó, nhẹ, một nhịp, như người trở mình trong mơ.
Nó để tay đó một lúc, nghe. Không có tiếng, chỉ có hơi ấm và nhịp co. Nó nhấc tay ra. Nó không nói gì với khúc gỗ.
"Thêm xác về," một giọng bà già nói, khàn, vọng ra từ phía dãy lán, nơi tấm ván đa nằm dưới chiếu chỗ nó ngủ. "Mày đếm được chưa? Tao đếm mãi không hết."
Kình không đáp. Thợ quanh nó vẫn kéo, không ai nghe thấy gì.
Lúc bè còn ở giữa sông, Kình ngoái lên một lần, thấy áo xanh của Thạc thoáng qua phía cổng nhà kín, một tay bưng cái gì như chén hồ. Nhịp hò kéo nó quay lại với sợi dây. Khi nó ngoái lần nữa, áo xanh đã khuất về phía văn phòng.
Gần trưa, thợ mới kéo xong khúc cuối. Mồ hôi chảy ròng ròng, áo ướt dính lưng. Mấy người ngồi phịch xuống đất thở dốc, rồi mắt họ lướt qua cánh cổng nhà kín và thấy tờ giấy trắng.
Thợ túm tụm trước cổng. Không ai đọc được chữ chuẩn trên tờ giấy.
"Chú Mái Chèo!" Ngãi gọi. "Đọc giùm!"
Kình bước tới, đứng trước tờ bảng. Chữ đen, to, nét ngay ngắn. Nó đọc chậm.
"Tháng Mười một chạy chính. Trước chạy chính, mọi cấu kiện kiểm lại theo quy định."
"Kiểm lại là kiểm cái gì?" Tạo hỏi.
"Kiểm cái mình làm chứ còn cái gì," Ngãi đáp.
"Kiểm bằng gì?"
"Bằng mắt. Bằng thước."
"Của ai?"
"Của ai kiểm."
"Ai kiểm?"
"Học chính Thạc kiểm, chắc vậy," Ngãi nói.
"Học chính kiểm thì thợ đứng cạnh?"
"Thợ đứng cạnh. Thợ đưa thước."
"Đưa rồi lấy lại được không?"
"Lấy lại được. Thước của mình mà."
"Thước của mình," Tạo lặp. "Chưa chắc."
"Chú Mái Chèo," Ngãi hỏi nhỏ. "Chữ chuẩn này, chú đọc có sót chữ nào không?"
"Không sót."
"Thật?"
"Thật. Tui đọc đúng từng chữ."
"Vậy là Giám nói thật."
"Giám nói thật. Chỉ không nói hết."
Tạo nhìn tờ bảng, rồi nhìn các thợ khác, không nói thêm. Ngãi gãi đầu. Một thợ rèn khạc nhổ xuống đất, chùi miệng bằng mu bàn tay. Gió từ bến thổi lên, làm góc tờ bảng giật giật như môi người sắp nói điều gì.
Kình đọc đến hai chữ "kiểm lại" lần thứ hai, thấp giọng, như đọc cho chính mình. Nó ngoái nhìn bè gỗ. Ông Cả đang gõ ngón tay lên đầu khúc lim, nghiêng tai. Ngón tay ông dừng giữa nhịp.
Rồi ông gõ tiếp, đúng nhịp cũ.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 81 →