Tối mồng mười, trước bàn thờ Tổ Lỗ ở gian giữa nhà chung, ông Cả đặt cây thước gãy lên giá cao. Bàn thờ gỗ sẫm, bài vị sơn son đã mờ, khói hương bốc thẳng, không gió. Ông thắp hương, khấn thấp giọng, bằng số.
"Ngày công, chín mươi tám. Gỗ lim, mười hai cây. Một học trò."
Ông vái ba vái. Ông nói không thêm gì nữa.
Thợ ngồi chiếu thành vòng, mặt hằn bóng đèn dầu: Tạo, Ngãi, cụ Khoan, vài thợ xóm đến muộn. Kình ngồi cuối chiếu, hai tay ôm gối. Ông Cả quay xuống, ngồi đầu chiếu.
"Bản vẽ là của chủ," ông nói. "Mộng là của thợ."
Không ai đáp. Đèn dầu xèo xèo.
"Bản vẽ của họ. Mộng của mình."
"Ông Cả muốn nói gì?" Tạo hỏi.
"Tôi muốn đặt vào lõi cái công trình một cái chốt."
Trong nhà chung, không ai thở mạnh.
"Chốt gì?"
"Chốt gỗ. Có dấu tay tôi."
Không ai nói chữ "bùa". Không ai nói chữ nào cả. Cái im lặng ấy dày như khói hương.
Ngãi chồm người tới. "Để con làm. Ông già rồi."
Ông Cả giơ một bàn tay, chặn. "Lệ tổ. Mười nhà mới được một. Thợ trẻ không được đụng."
"Con không sợ."
"Không sợ mới là chuyện." Ông nhìn Ngãi. "Thợ trẻ không sợ là thợ trẻ chưa biết gỡ."
"Ông làm thì ai gỡ?"
"Không ai gỡ."
Cụ Khoan ngồi mài đục bên đèn, tay vẫn đưa lưỡi đục lên xuống trên đá. Cụ nói, không ngẩng đầu. "Ếm thì phải có người gỡ. Tôi ba mươi hai năm không tự gỡ nổi cái của tôi."
Một thợ xóm khẽ xì xào. Kình cố nhìn cụ Khoan. Cụ không nhìn ai.
"Cái này không cần ai gỡ," ông Cả nói.
"Sao ông chắc?"
"Vì nó không đòi gì người ta."
Kình ngồi im một lúc, rồi mở miệng. "Nếu Giám tìm ra thì sao, ông?"
"Thì chém tôi."
Câu nói rơi xuống, nặng như thanh lim. Kình nhớ cái khế ước nằm trong kèo dinh Đàm, cái giọng lạnh và dài nó đã nghe, một thứ đòi nợ không chờ ai. Nó hỏi, vẫn nhỏ: "Cái chốt đòi gì?"
"Đòi cái công trình nhớ ai làm ra nó. Thế thôi."
"Nhớ rồi sao?"
"Rồi nó biết đường mà kêu."
"Kêu với ai?"
"Với ai nghe được." Ông Cả nhìn nó, và trong ánh mắt ấy Kình không đọc được gì, chỉ thấy hai đốm đèn dầu nhỏ xíu. "Cậu nghĩ sao?"
Kình không nói đồng ý. Nó cũng không nói đừng. Nó nhìn xuống bàn tay mình, những vết phồng vỡ, vệt đỏ gần phai. Nó nhớ thằng Tỵ khắc chữ lên cán dũa, từng nét một.
Ông Cả chờ một lúc. Ông không hỏi lại.
"Phải chờ cả phường," ông nói. "Cả phường chưa họp. Chuyện này không phải chuyện của một mình tôi."
Cụ Khoan thổi bụi đá khỏi lưỡi đục. "Phải họp. Phải đặt tay lên mép chiếu."
"Đặt tay lên mép chiếu," ông Cả nhắc lại.
"Ông Cả," Tạo nói, chậm. "Nếu Giám tìm ra, chém ông. Còn phường?"
"Phường thì tôi không nói được."
"Tôi nói được. Phường cũng chém."
"Thì phường cũng chém."
"Ông nói nhẹ như ăn bát cơm."
"Tôi nói đúng."
"Đúng thì tôi vẫn sợ."
"Sợ thì đặt tay xuống chiếu hay không đặt, tùy." Ông Cả nhìn quanh vòng người. "Không ai ép."
Một thợ xóm, người gầy, khẽ nói: "Thằng Tỵ có đáng không?"
"Đáng gì?" Ngãi gắt.
"Đáng để cả phường liều?"
Không ai đáp ngay. Rồi cụ Khoan đặt lưỡi đục xuống. "Chú hỏi sai. Không phải thằng Tỵ đáng không. Là cái công trình kia, mai mốt nó sẽ đè ai."
"Đè ai?"
"Đè cả xóm. Đè cả thợ. Đè cả người không biết nó đang đè." Cụ lại cầm đục lên. "Chú về nghĩ đi."
Người thợ gầy cúi đầu, không hỏi nữa.
Gió thổi qua mái nhà chung, làm ngọn đèn ngả sang một bên rồi dựng lại.
Kình đứng dậy trước khi người ta kết thúc. Nó không chịu nổi cái yên lặng. Nó đi dọc hành lang ra bếp nhà chung, nơi lửa còn đỏ trong lò, nồi nước sôi lục bục.
Cộc ngồi trên chạn bếp, hai chân đung đưa, cãi nhau với một ông già nhỏ xíu cao tới đầu gối. Ông cầm một cây thước tre, tay chống nạnh, râu dài trắng tới bụng.
"Giám vào sổ thằng nhỏ nhanh thế," ông Táo nói. "Chưa chôn đã có dòng."
"Sổ nhanh hơn người," Cộc đáp.
"Năm nay tôi chưa biết có lên không."
"Ông lên hay không thì ai giữ dòng thằng nhỏ?"
Ông Táo không trả lời. Ông cúi xuống thổi vào lò, hai má phồng như quả bóng nhỏ, lửa bùng lên, vàng, ấm.
"Ông kia," ông Táo nói, không quay đầu, "ông bảo cậu thợ trẻ kia đừng đứng ở cửa. Gió lùa vào bếp."
Kình giật mình, bước vào trong. "Dạ, con xin lỗi ông."
"Cậu cứ vào." Ông Táo vẫn thổi lửa. "Ngồi xuống, cậu. Đừng ngó tôi như ngó ma."
Kình ngồi xuống bậc cửa bếp. Cộc nhìn nó, im, mắt hơi sầm.
"Cha nghe hết rồi hả?" Kình hỏi nhỏ.
"Nghe," Cộc nói. "Không cần nghe cũng biết."
"Biết gì?"
"Biết ông già đó sắp làm chuyện mà ông già nào cũng không muốn làm."
Ông Táo chép miệng, nhưng không cãi.
Gần sáng, Kình ra bến Tre Ngâm, không biết đi làm gì, chỉ muốn thấy nước. Sương chưa tan, mặt sông trắng đục, hàng tre cong rũ xuống nước như những người đứng cúi. Cầu ván ướt, mỗi bước chân của nó để lại một vệt đen nhỏ, rồi vệt ấy cũng bị sương nuốt. Ở cuối bến, trên mũi chiếc ghe tam bản mắt vẽ, ông Cả đã ngồi sẵn. Ông gõ ngón lên từng tấm ván ghe, nghe thớ, từ mũi tới lái, môi mấp máy như đếm.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 58 →