Canh hai, tốp ông Cả ngồi dựa vách ở hiên nhà kín, chờ gọi nếu trục gãy. Ánh lò lọt qua khe ván, vạch từng đường đỏ lên mặt thợ. Bên trong, chày rơi đều.
Kình đếm theo nhịp. Một. Hai. Ba. Như nó đã đếm bao gạo của thầy Đức ở bến. Con số cứ đi lên, không dừng, và nó thấy dễ chịu vì có việc cho cái đầu làm.
"Mày đếm cái gì?" Cộc hỏi nhỏ, ngồi trên đầu gối nó.
"Chày."
"Đếm chày làm chi?"
"Cho khỏi buồn ngủ."
"Hôm nay mày nói câu nào cũng như cái tờ giấy."
"Cha nói câu nào cũng như cái đuôi cá."
"Ờ," Cộc thở ra. "Tao khen."
Tới một nhịp, tiếng chày rơi khác. Không có tiếng gỗ chạm gỗ.
Kình ngưng đếm. Cả hiên im. Rồi bên trong có tiếng lính hét, một tiếng, hai tiếng, tiếng hét cao vút đứt giữa chừng. Chày dừng.
Ông Cả đứng dậy trước, chạy vào. Kình chạy theo, Cộc nhảy khỏi đầu gối nó.
Nhà kín sáng đèn, lò hong còn đỏ than. Chày gác nghiêng, đầu trên cao, đầu dưới chạm bàn ép, im lìm. Hai tên lính đứng sát tường, mặt xám ngoét, một tên đang run bần bật. Dưới cạnh bàn ép, chỗ ấm nhất, trên đống phoi, Kình thấy cái dũa có chữ Tỵ khắc nửa chừng. Và một bàn chân trần, nhỏ.
Nó không nhìn thêm.
"Trước khi chạy," ông Cả nói. Giọng ông khàn, thấp, như nói với bức tường. "Trước khi chạy không ai đếm học trò."
Không ai đáp.
"Tôi không đếm."
Thầy Khiêm chạy tới, hòm thuốc mở dở, áo chưa cài hết khuy. Ông quỳ xuống, đặt hai ngón tay lên cổ thằng bé. Cả nhà kín nín thở. Ông giữ tay ở đó lâu. Rồi ông rút tay về, kéo một tấm chiếu, phủ lên.
"Không kịp."
Tay ông run đến mức không đậy nổi nắp hòm. Nắp cứ trượt khỏi chốt, kêu cách, cách. Kình cúi xuống, lấy hai tay đỡ nắp, đậy giùm. Thầy nhìn nó một cái, rất ngắn, rồi quay đi.
Ở góc nhà kín, người ta đã kê một cái bàn thấp, đèn dầu đặt trên đó. Uẩn ngồi sau bàn, mặt trắng như tờ giấy, bút trong tay. Bên cạnh hắn là một thư lại già.
"Tên học trò."
"Thằng Tỵ," ông Cả nói.
"Họ gì?"
"Ở xóm không ai hỏi họ."
"Sổ phải có họ."
"Con nhà Ninh ở Ao Cưa," Ngãi nói, giọng vỡ. "Ninh Văn Tỵ. Mười bốn."
Uẩn chép. Kình đứng trong bóng cái khung, cúi mặt, nón kéo thấp, tay chìa cái dũa ra phía vùng sáng đèn. "Cái này của nó."
Uẩn nhận lấy bằng hai ngón, không ngẩng nhìn người chìa. Hắn nhìn nét khắc trên cán, chép chữ Tỵ theo từng nét. Hắn viết:
Học trò Ninh Văn Tỵ, mười bốn tuổi, ngủ sai chỗ. Tai nạn. Bồi ba quan.
"Ngủ sai chỗ," ông Cả nhắc.
"Theo quy định, học trò không ngủ trong nhà kín."
"Nó ngủ ở lò hong."
"Lò hong là trong nhà kín."
"Lò hong ở đầu nhà kín."
"Là trong." Uẩn nuốt khan, mắt vẫn không rời sổ. "Tôi chỉ chép."
"Chép thêm một dòng được không?" Ngãi nói. "Chép là nó mài cưa giỏi nhất lán."
"Sổ không có cột đó."
"Cột nào có?"
"Tên. Tuổi. Nguyên do. Mức bồi."
"Nguyên do là ngủ sai chỗ."
"Là nguyên do chép được."
"Nguyên do thật thì sao?"
Uẩn không đáp. Bút hắn dừng, đầu ngòi run, một giọt mực rơi xuống cuối dòng, loang thành một chấm. Hắn lấy đầu ngón tay quệt, quệt thành vệt.
"Tôi chỉ chép," hắn nói lần nữa, nhỏ hơn.
Cửa nhà kín mở. Thạc bước vào, áo chỉnh tề, tóc chải. Ông đọc dòng chữ trên sổ, lâu hơn cần thiết, rồi cầm bút ký. Kình chỉ nhìn thấy bàn tay ông cầm bút và nửa ống tay áo quan. Mặt ông ở ngoài vùng nó nhìn.
"Ba quan là mức cao nhất tôi ký được," Thạc nói. "Xin ông hiểu cho."
"Ba quan," ông Cả nhắc lại.
"Học trò không có mức. Tôi ký theo mức thợ."
"Ở xưởng này ông ký mấy lần rồi?"
"Chưa lần nào." Thạc ngừng. "Đây là lần đầu."
Ông Cả không đáp.
"Cần người điểm chỉ nhận thay nhà học trò."
"Tôi điểm."
"Ông đọc được không?"
"Tôi đo được."
Ông quay lại. Mắt ông tìm trong bóng khung, tìm đúng chỗ Kình đứng. "Đọc."
Kình bước một bước, rồi dừng, vì nếu bước nữa nó vào vùng sáng. Nó ghé tai ông Cả từ phía sau, đọc khẽ từng chữ, như đọc kinh.
"Học trò Ninh Văn Tỵ. Mười bốn tuổi."
"Tiếp."
"Ngủ sai chỗ."
"Đọc lại."
"Ngủ sai chỗ."
"Tiếp."
"Tai nạn. Bồi..." Nó dừng.
"Bồi gì?"
"Bồi ba quan."
Ba quan. Mười ngày công thợ. Một tháng lương lính khuân của thầy Đức. Cái số mà thằng Tỵ tính bằng ngón tay ở lán đêm rằm, môi mấp máy, mắt tròn xoe, ba quan thì mẹ cháu thôi đi bán dăm.
"Tiếp?" ông Cả hỏi.
"Hết, ông."
"Ai báo mẹ nó?" Ngãi hỏi.
"Tôi báo."
"Ông báo bằng gì?"
"Bằng chân. Sáng mai." Ông Cả nhìn tờ giấy. "Ba quan mang theo."
"Ông mang thay?"
"Cai mang. Tôi đi cùng."
Ông gật. Ông ấn ngón cái vào hộp son, ấn xuống tờ giấy cạnh dòng chữ. Dấu vân tay in rõ, đỏ, tròn, có đường xoáy.
Ông đứng đó, im, giữa tiếng đèn dầu xèo xèo và tiếng chày đã tắt hẳn. Rồi ông chùi ngón cái lên vạt áo, nhẹ. Chùi lại. Vệt đỏ gỉ loang trên vải nâu. Ông vẫn chùi. Uẩn đã gấp sổ, ôm lên ngực, bước ra cửa, cái dũa để lại ở mép bàn. Thạc đã đi. Hai tên lính được dẫn ra. Thầy Khiêm ngồi xuống bên tấm chiếu, đầu cúi. Ông Cả vẫn chùi.
Kình nhìn xuống ngón cái của mình. Vệt đỏ từ chiều còn đó, từ lúc nó cầm tờ giấy thử trong tay. Cùng một màu.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 54 →