Cửa nhà kín mở lần đầu cho cả ba tốp. Mồng sáu tháng Bảy, sáng sớm, cánh cửa gỗ dày kêu ken két như một tấm ván bị nhấc khỏi nền, và bên trong tối, mùi dầu rái, mùi sắt nguội, mùi lim mới xẻ đặc quánh như cháo.
Ngoài sân, các cấu kiện chồng thành đống. Trên đầu mỗi thanh gỗ có một ký hiệu thợ đục nông, mỗi tốp một kiểu: vạch thẳng, móc cong, chấm tròn. Để mộng nào về đúng mộng ấy.
Con Mẹt đi dọc đống gỗ, đọc ký hiệu nhanh như gọi tên người quen. "Móc, móc, vạch ba. Chấm, chấm, vạch hai. Mái Chèo, tới đây, cái này của mình."
Kình đứng trước một thanh gỗ lim, nhìn cái dấu đục trên đầu nó. Ba vạch song song, một cái móc ở cuối. Nó nhìn lâu.
"Ba vạch một móc."
"Đúng."
"Là cái gì?"
"Là của tốp ông Cả. Bộ trục."
"Làm sao biết?"
"Tao biết."
"Biết kiểu nào?"
"Kiểu nhìn là biết." Mẹt chống nạnh. "Mày đọc được chữ mà đứng nhìn cái dấu không ra cái gì. Biết chữ mà mù dấu."
"Dấu này ai dạy?"
"Ông Cả. Hồi tao sáu tuổi."
"Chữ này ai dạy?"
"Chẳng ai." Mẹt ngừng một nhịp, mặt thoáng tối. "Tao tự nhìn."
Tạo đi ngang, vai vác một thanh ván, cười khùng khục. "Thằng Mái Chèo biết chữ mà không biết dấu. Con Mẹt biết dấu mà không biết chữ. Hai đứa ghép lại thành một người thợ."
"Chú Tạo nói đúng," Kình nói.
"Chú Tạo lúc nào chả đúng," Ngãi chen, vác hai thanh gỗ đi ngang, mồ hôi nhỏ giọt. "Chỉ có điều chú không biết mình đúng."
"Thằng này," Tạo nói, "mày vác không nổi hai thanh thì bỏ một thanh xuống."
"Tôi vác nổi."
"Vác nổi mà mặt đỏ như gấc."
"Mặt tôi đỏ từ hồi mới sinh."
"Đừng ghép," Mẹt nói. "Ghép lại thì tao phải nghe nó nói."
Ở góc sân, Kiều Đình Sáu ngồi xổm xếp các khối gỗ chạm thành một vòng tròn trên nền đất. Khối nào cũng bằng bàn tay, mặt khắc chữ ngược, nét sắc như vừa mài. Ông lẩm nhẩm đọc, môi mấp máy nhanh, đọc ngược như đọc xuôi, không vấp một chữ. Kình liếc nhìn mặt khối chữ gần nhất và thấy lại một cái nét móc quen, cái nét đã thấy ở nhà chạm. Nó nhìn đi chỗ khác.
"Lại ngó chữ ngược," Sáu nói, không ngẩng đầu, tay vẫn xếp khối.
"Dạ. Con nhìn thôi."
"Nhìn thôi thì tốt." Ông đặt một khối vào vòng, chỉnh nửa phân. "Chữ ngược khó. Lỡ tay một nét là phá cả khối."
"Phá thì sao ông?"
"Thì khắc khối khác. Gỗ thị còn nhiều." Ông ngẩng lên, mắt nhỏ, lông mày bạc. "Khắc dấu ba chục năm, tao chưa thấy hai mặt dấu nào giống hệt nhau. Chỗ khác nhau ấy là người."
"Dạ."
"Nhớ lấy."
Kình gật. Nó không biết vì sao câu đó nghe như một lời dặn.
Rồi tốp ông Cả khiêng trục vào. Mười người, vai trần căng, bước đều, cây trục gỗ lim dài hơn chiều cao hai người đứng nối đuôi. Kình đỡ một đầu, ông Cả đỡ đầu kia, nhịp chân khớp từng bước. Qua ngưỡng cửa, tối ập xuống, rồi mắt dần quen.
Giữa nhà kín là một khung gỗ cao gấp đôi đầu người. Bánh răng gỗ cắm vào nhau, then sắt của tốp rèn đen bóng, những cữ mộng chặn từng nấc. Và nằm gác ngang trên khung, một chày gỗ dài bập bênh, đúng như chày cối giã. Một đầu chày chúc xuống bàn ép phía dưới. Đầu kia ngẩng lên cao, trống trơn.
Cây trục họ đẽo nằm đúng ở giữa, cắm vào hai ổ.
Ông Cả đặt thước gãy vào khe mộng, mắt nheo. Thước quấn dây gai, đầu gãy lẫn trong bóng tối. Ông đo, rồi đo lần nữa.
"Ba tấc hai," ông nói. "Đúng bản."
"Đúng bản là sao ông?" Kình hỏi, giọng nhỏ.
"Đúng bản vẽ."
"Bản vẽ của ai?"
"Của chủ." Ông Cả gõ ngón tay lên chày, nghe. Tiếng gỗ đặc, đục. "Gỗ chưa nghỉ."
"Gỗ nghỉ là sao ông?"
"Gỗ xẻ rồi phải để. Để khô thớ. Để quen hơi." Ông lại gõ. "Gỗ này mới xẻ mười ngày."
"Mười ngày ít quá."
"Đấy."
Ông không nói thêm. Ông cất thước vào thắt lưng.
Tỵ được giao giữ lửa cái lò hong ở đầu nhà kín, và quét phoi. Nó quét chậm, mắt tròn đảo quanh khung gỗ cao, miệng há. Ông Cả đi ngang.
"Nhìn gì?"
"Nó to quá, ông ơi."
"To thì sao?"
"Con chưa thấy cái gì to vậy."
"Thấy rồi thì quét."
Tỵ quét. Nó quét một lúc thì ngồi xổm cạnh lò hong, hai tay xòe ra trước hơi than. "Ấm."
"Ấm thì đừng ngủ."
"Dạ."
"Không ngủ thật?"
"Dạ, không ngủ."
Ngoài cửa có tiếng giày da gõ trên nền gạch, đều, từng bước. Kình nghe tiếng giày da trước khi nghe giọng, đoán ra người mặc áo quan, và nó lùi ra sau khung gỗ, đứng khuất sau bánh răng gỗ, nón thấp.
"Ông Nhẫn."
"Có tôi," ông Cả nói.
"Mai chạy thử. Theo quy định, tốp nào làm mảnh nào thì đứng cạnh mảnh ấy."
"Gỗ chưa nghỉ."
"Tôi biết. Bản vẽ ghi ngày chạy, không ghi ngày nghỉ gỗ."
"Chạy thì kêu."
"Kêu thì tôi ghi lại." Giọng Thạc mềm, tiếc nuối thật sự. "Xin ông hiểu cho."
Ông Cả không đáp. Giày da quay lại, đi dọc hành lang, xa dần.
Kình ra khỏi chỗ khuất. Tay nó lạnh. Nó nhìn cái chày gác ngang trên khung, cái đầu ngẩng cao, trống trơn, và nó không nói gì.
Đêm, nhà kín đóng cửa. Kình ra ngoài đi tiểu, đi ngang cánh cửa gỗ dày, một vệt sáng lò lọt ra qua khe ván. Bên trong không có tiếng gỗ co, không có tiếng răng rắc. Chỉ có tiếng cái chày bập bênh tự nghiêng nhẹ về một đầu, kẹt một tiếng, như người trở mình.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 52 →