Ông Cả thắp ba nén hương, vái, cắm vào bát. Khói bay thẳng lên, không lay. Gian giữa nhà chung chỉ có một ngọn đèn dầu đặt giữa chiếu, và bàn thờ tổ ở trong cùng, mâm trầu cau, chén rượu, hai cây nến chưa đốt.

Kình đứng ngoài vòng chiếu, nhìn bài vị. Gỗ đen bóng, chữ thếp vàng bong mấy chỗ. Nó dò được tôn hiệu ở giữa: Tổ Lỗ. Phía dưới là một hàng chữ nhỏ hơn.

"Sắc tặng," nó đọc khẽ. "Hàm thượng thư."

Ngãi đứng cạnh, trố mắt. "Ghi thế thật à?"

"Thật. Chữ còn đó."

"Ông Cả," Ngãi gọi. "Bài vị ông Tổ ghi hàm thượng thư."

Ông Cả không quay lại. Ông vẫn đứng nhìn khói hương. "Ghi thế. Triều trước sắc tặng." Ông dừng một nhịp. "Ông Tổ hàm to hơn Học chính."

Kình không nói gì. Nó nhớ con ấn sừng trắng không có chữ trong bọc vải. Nó nhớ tờ sắc Giám đóng bốn cái đinh trên phiến đá đèo. Một ông tổ thợ có sắc to như thế mà mấy người thợ ngồi dưới chiếu thì không có gì. Nó để ý rồi thôi.

Ngoài sân có tiếng dép. Cai Lược bước vào, áo the đen cũ mà lành, khăn xếp, túi vải đựng giấy đeo hông. Mặt tròn, râu mép tỉa, và ông cười trước khi nói.

"Chào thợ cả. Chào bà con." Ông nhìn bàn thờ. "Bàn thờ đẹp. Rượu thơm. Phường mình năm nay khá."

"Cai ngồi," ông Cả nói.

Cai ngồi xếp bằng, rút trong túi ra tờ khế ước mùa việc, mở, đặt xuống chiếu. Giấy mới, nét mực đen, dưới cùng có dấu gỗ của cai và một chỗ để điểm chỉ. Ông đưa tay định cầm lên đọc.

"Nay thằng Mái Chèo đọc," ông Cả nói.

Cai khựng lại. Ông nhìn Kình, vẫn cười. "Ừ. Cho trẻ nó tập."

Kình bước vào vòng chiếu, quỳ một gối, cầm tờ giấy hướng về phía đèn. Nó đọc to, chậm, như đọc yết cho bà bán cá.

"Thợ phường Kim Mộc nhận việc mùa hè, công ba tiền một ngày, trừ cơm, trừ dụng cụ hư."

Không ai nói gì. Có tiếng muỗi vo ve ngoài cửa.

Kình đọc lại câu cuối lần thứ hai. Rồi nó ngẩng lên.

"Trừ cơm bao nhiêu? Trừ dụng cụ hư bao nhiêu?"

"Trừ theo lệ," cai nói.

"Lệ ghi ở đâu?"

"Lệ thì ai cũng biết. Ghi làm gì."

"Ai cũng biết thì ghi vô cũng không sao."

Cai cười to hơn, cái cười nhẹ nhàng của người sợ phiền. "Chủ không ghi thì tôi ghi làm gì. Chủ nhà ký, tôi chỉ chuyển."

"Cai ghi đi."

"Thợ cả nói lạ," cai nói, giọng vẫn nhẹ. "Mười mấy năm phường mình có ghi đâu."

"Mười mấy năm không ai đọc."

"Đọc hay không thì lệ vẫn là lệ."

"Lệ là lệ thì ghi ra cũng là lệ." Kình thấy mình nói quá nhanh, bèn hạ giọng. "Dạ, con nói theo chữ thôi, cai."

"Cậu nói có lý." Cai cười, mắt không cười theo. "Cậu quê đâu mà đọc kỹ thế?"

"Dạ, miệt dưới."

"Miệt dưới." Cai gật gật. "Miệt dưới người ta thương trẻ biết chữ."

"Ghi."

Câu cụt, từ ông Cả. Cai quay sang. Ông Cả vẫn nhìn khói hương, lưng thẳng, hai tay đặt trên đầu gối.

"Ghi thêm chữ nào thợ cả?"

"Chữ nào chủ ghi cũng được. Ghi đi."

Cai im một lúc. Rồi ông rút cây bút từ túi, nhúng vào nghiên của phường, cúi xuống dòng cuối và viết thêm hai chữ. Mực còn ướt.

"Đọc đi," ông Cả nói với Kình.

Kình cúi, đọc: "Theo lệ."

"Theo lệ," ông Cả lặp lại. "Hai chữ. Giờ nó là giấy."

Chú Hai Tạo cười khẩy một tiếng ở cuối chiếu. Cả gian lặng. Một thợ trẻ ngồi sát cửa, mặt đỏ, lên tiếng.

"Cai có lệ của cai, mình cãi làm gì. Có việc là may."

"Mày may thì mày ký," ai đó nói nhỏ.

"Tao nói thật mà."

Ông Cả không mắng ai. Ông chìa ngón cái ra, ấn vào nghiên son trong tay Ngãi, rồi ấn lên chỗ điểm chỉ ở cuối tờ khế ước. Dấu vân đỏ sẫm, to, xoáy tròn. Ông nhấc tay lên nhìn một chút rồi lau vào khăn.

Cai cất khế ước vào túi, đứng dậy phủi áo. "Chúc phường mùa này nhiều việc. Tôi xin phép."

"Cai đi cẩn thận," ông Cả nói.

Tiếng dép ra khỏi sân. Ngãi chờ nó xa mới thở ra.

"Ông ấy ghi thật," gã nói khẽ. "Mười mấy năm tôi ngồi đây, chưa lần nào ông ấy ghi."

"Ổng sợ phiền."

"Sợ thì ông ấy mới cười." Gã quay sang Kình. "Cậu không sợ à?"

"Dạ, sợ."

"Sợ mà cậu hỏi?"

"Tui hỏi chữ. Có hỏi người đâu."

Ngãi nhìn nó lâu rồi bật cười, bụm miệng cho khỏi to.

Không ai đứng dậy ngay. Ông Cả quay lại, nhìn cả chiếu, nhưng không nhìn riêng ai.

"Trừ một tiền," ông nói. "Năm nào cũng một tiền. Năm nay có người đọc lên thành tiếng."

Bà Hợi ngồi ở bậu cửa, cuốn sổ hình đặt trên đùi. Bà giơ ba ngón tay cho mấy bà vợ thợ ngồi sau xem, rồi gập một ngón xuống, chỉ còn hai. Mấy bà gật gù, một bà đưa tay áo lên chùi mắt.

Phường tản dần. Tạo đi ngang Kình, vỗ vai một cái rồi đi tiếp. Ngãi nháy mắt với nó. Con Mẹt đứng ở ngưỡng cửa, không vào, nhìn Kình một cái thật nhanh rồi quay mặt.

Ông Cả ở lại một mình với đèn dầu. Kình định ra thì ông gọi.

"Thằng Mái Chèo."

"Dạ."

"Đọc lại câu cuối. Câu trừ theo lệ."

"Dạ. Trừ cơm, trừ dụng cụ hư, theo lệ."

Ông Cả nghe. Rồi ông gõ hai ngón tay lên mặt tấm ván kê chiếu, nhẹ, rồi nghiêng đầu, như nghe ai trả lời từ trong thớ gỗ.

"Gỗ không nói dối," ông nói. "Người đo mới nói dối."

Ông thổi tắt đèn.

Hết Chương 5
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 6 →
← TrướcTiếp →