Cộc nhảy từ vai Kình xuống bậc đá, ngồi xếp bằng đối diện thầy Đức, bàn tay duy nhất ôm luôn nửa nắm cơm thầy chưa kịp ăn. Thầy Đức nhìn nửa nắm cơm. Thầy nhìn Cộc. Thầy ngồi xuống lại.
"Cái đó là phần tôi."
"Phần ông để quên," Cộc nói. "Quên là bỏ."
"Quên không phải bỏ. Quên là chưa ăn."
"Tao ăn giùm cho khỏi thiu." Cộc nhai một miếng to, má phồng, hạt cơm dính đầy râu. Cái chân sau nó đập đập xuống bậc đá theo nhịp nhai, bộp bộp, như gõ mõ. "Tao hỏi ông chuyện cái ghe."
"Ông hỏi rồi mới ăn, hay ăn rồi mới hỏi?"
"Vừa ăn vừa hỏi cho đỡ phí thời giờ."
"Ghe nào?"
"Ghe ông gửi thằng cháu bà Tư Hến. Giờ nó chở heo."
Kình đang uống nước, suýt phun ra. Thầy Đức không đổi mặt.
"Có biên nhận."
"Biên nhận ghi gì?"
"Ghe một chiếc. Ván đáy mười một tấm. Mui lá vá ba chỗ. Mái chèo không."
"Thiếu mái chèo mà kêu là ghe?"
"Mái chèo có người giữ hộ. Ghi đúng."
"Lỡ thằng cháu bán ghe?"
"Biên nhận có điểm chỉ."
"Điểm chỉ thì nó chặt ngón."
"Chặt ngón thì phải trình xã."
"Trình xã mà xã không ở đây?"
"Thì xã đến." Thầy Đức giơ một ngón tay lên như đọc điều lệ. "Xã mà không đến thì ghi vào sổ là xã vắng. Sổ có chỗ cho xã vắng."
Kình bật cười thành tiếng. Tiếng cười ra khỏi cổ nó dễ như trượt, vang giữa bến, làm mấy tay lính khuân quay lại nhìn. Nó lấy tay bịt miệng, vai rung lên. Từ khi vào xưởng nó chưa cười như thế lần nào.
"Cười cái gì," Cộc nói. "Tao đang hỏi nghiêm túc."
"Con xin lỗi cha."
"Ông này nói chuyện như bảng giá." Cộc quay lại thầy Đức, nhăn mặt. "Mà lần nào nói cũng đúng."
"Đúng thì tôi mới nói."
Kình đứng dậy phủi áo. Mùn cưa trên vạt áo nó rơi lả tả xuống tấm chăn chàm, một lớp mịn màu đỏ sẫm. Thầy Đức nhặt một mẩu bóp giữa hai ngón, đưa lên mũi.
"Lim."
"Sao thầy biết?"
"Tuần trước bến nhập mười hai cây lim, gốc còn buộc vải đỏ. Tôi vác đầu nhỏ." Ông búng mẩu mùn đi. "Vác vào dãy kho giấy."
Kình không đáp. Nó hiểu cái dãy kho giấy mái thấp kia sát ngay sau lưng cổng xưởng. Nó hiểu thầy Đức chỉ nói đúng những gì thầy nhìn thấy, không nói thêm một chữ.
"Tôi ghi số cây," ông nói. "Không ghi cây đi đâu."
"Tại sao không ghi?"
"Sổ của tôi không có cột đó."
"Sổ ai có cột đó?"
"Sổ người nhận gỗ. Tôi không cầm sổ ấy."
Cộc liếm ngón tay, nhướng mày nhìn Kình. Kình lắc đầu nhẹ, chữ "đừng" nằm trong cái lắc đầu.
Thầy Đức chỉnh tấm chăn trên vai, mắt nhìn ra bến, giọng nói tiếp đều như đọc sổ. "Năm nay bến nhập giấy gấp ba năm ngoái. Người chép thì không thêm một ai."
"Vậy là sao thầy?"
"Là số."
"Số đó nghĩa là gì?"
"Tôi ghi số."
Kình giữ câu đó lại trong đầu. Nó không hiểu. Nó biết nó sẽ nhớ.
"Giấy ba phần, người một phần," Cộc nói, lém lỉnh. "Cái tay nào chép thì chép chết."
"Có thể." Thầy Đức không cười. "Hoặc không phải người chép."
"Ông nói cái gì?"
"Tôi chưa nói gì."
Cộc ngó ông, rồi ngó Kình, rồi ngó lại nửa nắm cơm trên tay mình. Nó nhét cả miếng còn lại vào miệng, nhai ngồm ngoàm để khỏi phải hỏi thêm.
"Thôi," nó nói, miệng đầy. "Quay lại cái ghe. Ông gửi ghe cho thằng cháu, ghe nó có số không?"
"Có số."
"Số mấy?"
"Số bốn mươi hai." Thầy Đức nhìn lên. "Ghi ở đầu cọc đuôi. Ghe có số thì mất ghe, bến biết ghe của ai."
"Ghe của ông."
"Ghe của tôi."
"Nửa của tao."
"Nửa của ông?"
"Tao ngồi trên mui cả năm." Cộc ưỡn ngực. "Tao đếm sao ban đêm. Tao nghe ông đọc sổ ban ngày. Ghe mà không có tao thì ghe chỉ là mấy tấm ván."
"Nửa ghe."
"Nửa ghe."
Thầy Đức nhìn Cộc rất lâu, lâu đến mức Kình tưởng ông sẽ cãi. Ông không cãi. Ông móc cuốn sổ nhỏ ra, nhúng bút, đặt trang giấy lên đầu gối.
"Đọc to đi," Cộc nói.
"Không."
"Sao không?"
"Ghi trước. Đọc sau."
"Ông này ghi mà không đọc, như ăn mà không nhai."
"Ăn mà không nhai thì nuốt cả cục."
Cộc há miệng định cãi, rồi thôi. Phía sau lưng thầy, sát dãy kho giấy mái thấp, một ống lò bốc lên sợi khói mảnh, thẳng, không gió. Kình nhìn sợi khói một lúc. Nó nghĩ tới bà Tư Hến, tới thằng cháu tát nước, tới cây nhang đốt ở mũi ghe mỗi đêm, và nó muốn nói với thầy một câu về những thứ đó, nhưng câu nào nó nghĩ ra cũng thừa.
"Thầy," nó nói. "Con nhờ thầy một việc."
"Việc gì."
"Nếu thằng cháu bà Tư Hến lỡ có chuyện, thầy ghi giùm ghe có người giữ."
"Ghi rồi."
"Ghi hồi nào?"
"Hồi gửi ghe. Ghi rằng khi nào tôi về, ghe còn nguyên." Ông ngừng một nhịp. "Còn mái chèo, ghi riêng."
Ông xoay sổ về phía cả hai để cùng đọc. Chữ nghiêng nghiêng, nét mực còn ướt.
Một nửa ghe: chưa có biên nhận.
Kình đọc xong thì nhìn sang Cộc. Cộc đã liếm ngón tay, gật gù như người vừa thắng một vụ kiện lớn.
"Nửa là của tao," nó nói, hài lòng. "Ghi vậy mới đúng."
"Ghi vậy thì chưa phải của ai," thầy Đức nói.
"Ổng ghi để làm gì?"
"Để sau này có người hỏi, sổ không nói dối."
Cộc im, nhưng cái gật đầu vẫn chưa dừng. Ông gập sổ lại, và cái gật đầu của Cộc dừng đúng lúc bìa sổ khép.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 44 →