Thầy Đức tháo tấm chăn chàm khỏi vai, gấp tư, trải lên bậc đá làm chỗ ngồi. Mặt chăn có những vết ố vuông vức, mỗi vết đúng cỡ một đáy bao gạo.

"Thầy ngồi lên đi," Kình nói.

"Cậu ngồi. Tôi ngồi đây."

Ông ngồi lên mép chăn, để phần còn lại cho Kình. Kình ngồi xuống bậc đá trần, nhìn vết ố, nhìn vai ông. Lớp áo lính khuân mỏng dính mồ hôi, hằn hai đường đỏ chạy từ cổ xuống nách.

"Trời tháng Sáu mà thầy quấn chăn. Con coi mà nóng giùm."

"Chăn Giám phát cho lính. Mất thì phải đền bảy tiền." Ông bẻ nắm cơm, đưa lên miệng. "Để ở kho thì mất. Quấn trên người thì không mất. Quấn thì vai cũng đỡ."

Cộc cười khục khục trên đầu gối Kình. "Quấn chăn giữa hè vì sợ đền bảy tiền."

Thầy Đức nhai xong mới nói, giọng đều: "Bảy tiền là hơn hai ngày công thợ. Hơn hai ngày công, đổi một tấm chăn. Tôi tính chăn đáng."

"Thầy tính nhanh dữ."

"Tôi ghi sổ cả đời. Mọi thứ thành số."

Cơm trắng, muối vừng. Kình ăn chậm. Dưới bến, một bao gạo rách, hạt rơi lả tả xuống ván, mấy con chim sẻ sà xuống mổ. Cai bến chửi, tay quơ quơ. Không ai đuổi chim.

"Thầy bị phạt bao nhiêu vậy thầy?"

Ông không lảng. Ông kể đúng cái giọng kể giá gạo. "Tước chức tuần vùng. Phạt nửa năm lương, bảy mươi hai quan. Giáng làm lính khuân, ba quan một tháng, cơm Giám. Gạo bến này ba tiền một đấu. Một ngày tôi vác bốn mươi bao."

Kình nhẩm. "Bảy mươi hai quan, ba quan một tháng. Thầy vác hai mươi bốn tháng mới đủ."

"Hai mươi bốn tháng, không ăn." Ông nói như sửa một con số sai trong sổ.

"Có ăn thì sao?"

"Có ăn thì không đủ. Cơm Giám tính vào lương."

"Vậy là thầy vác hoài?"

"Vác cho tới khi sổ khép." Ông bẻ đôi chỗ cơm còn lại, gói một nửa vào lá. "Sổ khép thì thôi."

Cộc nhìn ông như nhìn một con số lạ, quên cả ngoáy tai.

"Cậu khỏe không?"

"Dạ khỏe."

Hai ngón tay thầy Đức gõ một lần lên bìa sổ, cộc. Ông nhìn bàn tay Kình đang cầm nắm cơm. Mấy chỗ phồng vỡ, mảnh băng vải cũ ngả màu, một vết xước dọc mu bàn tay đã đóng vảy. Ông không ghi. Ông không hỏi lại.

"Ăn đi," ông nói. "Cơm nguội mất ngọt."

"Dạ."

"Chỗ cậu có cơm không?"

"Dạ có. Một suất mỗi bữa."

"Một suất là bao nhiêu?"

"Một chén lưng. Có hôm có cá kho."

"Hôm không có cá thì ăn gì?"

"Ăn muối vừng."

"Muối vừng cũng được." Ông gật. "Muối vừng không ai thu."

Kình bật cười, rồi thôi. Nó cầm nắm cơm một lúc lâu. Nó nhớ chiều ở hiên nhà ngoại, tờ lệnh dán chữ son, ô vuông đỏ bốn cạnh thẳng, giữa trống trơn. Nó nhớ ngón tay thầy chỉ dọc từng chữ.

"Bữa đó thầy đọc cái lệnh trên hiên... thầy đọc lại con nghe được không?"

"Lệnh đó Giám thu rồi."

"Dạ."

"Tôi nhớ."

Ông không đổi thế ngồi. Ông đọc, chữ nào ra chữ nấy, giọng bằng phẳng. Đọc tới đoạn "trình diện Sùng Văn Giám trong hạn định" thì giọng ông vẫn y như lúc nói ba tiền một đấu, không lên, không xuống. Môi Kình mấp máy theo, chậm nửa nhịp.

Ông đọc xong. Cả hai im.

"Dạ," Kình nói. "Vậy đó."

"Vậy đó."

"Con nghe rồi."

"Cậu nghe rồi thì tôi không đọc lại."

Cộc ngừng nhai, nhìn Kình lâu hơn thường lệ. Nó không nói gì. Nó ngoáy ngoáy vào kẽ móng, nhìn đi chỗ khác, rồi lại nhìn về.

"Cha sao đó?" Kình hỏi nhỏ.

"Không sao," Cộc nói. "Ngứa."

"Ngứa đâu?"

"Ngứa chỗ không gãi được."

Thầy Đức không quay đầu. Ông phủi vụn cơm trên đầu gối. "Cậu có đủ áo mặc không?"

"Dạ đủ. Có cái vá ở vai."

"Vá bằng gì?"

"Bằng vải chàm. Người ta cho."

"Chàm bền." Ông nhìn lên mặt sông, chỗ mấy chiếc ghe chở than đang trượt qua, nước đen sệt sau mạn. "Chàm giặt không phai. Mặc ba năm vẫn là chàm."

"Thầy mặc chăn chàm hoài, thầy biết rồi."

"Tôi biết."

Kình ngó tấm chăn trên vai ông, cũ, xám, gấp nhiều nếp đã thành đường chỉ. Nó muốn nói một câu gì đó nhưng câu nào cũng thừa. Gió lùa lên bậc đá mang theo mùi bùn, mùi gạo, mùi mồ hôi người vác. Cộc hít mũi, chui vào lòng nó, mắt không rời gói lá chuối bên hông thầy.

"Mái chèo tốt," thầy Đức nói thêm, như nói với chính cái cán gỗ sau lưng Kình. "Cậu giữ kỹ."

"Dạ, con xoa sáp mỗi tối."

"Sáp ong hay sáp dầu?"

"Sáp ong. Bà Hợi cho một cục."

"Bà Hợi là ai?"

"Dạ, người nấu cơm."

"Ghi ơn bà ấy," ông nói. Giọng không đổi. "Người nấu cơm là người giữ sổ thật."

Phía dưới, cai bến thổi còi. Hàng lính khuân bắt đầu dịch chuyển về thuyền, vai trần phơi nắng, từng bước từng bước. Thầy Đức vẫn ngồi. Ông rút bút lông từ thắt lưng, mở sổ ra, đặt trên đầu gối, nhúng ngòi vào ống mực tre nhỏ.

Ông viết một dòng. Kình ghé nhìn qua vai ông, đọc từng chữ nghiêng nghiêng.

"Trưa rằm," nó đọc khẽ. "Ăn một nắm cơm. Đọc lại một tờ lệnh cũ cho một người nghe."

Không có tên ai trong dòng đó. Không có tên ông. Không có tên nó.

"Thầy ghi vậy thôi sao?"

"Ghi đúng việc."

"Con tưởng thầy ghi cả tên."

"Tên thì để cho người khác ghi." Ông gập sổ, ngậm bút, đứng dậy, khoác lại tấm chăn chàm lên vai. "Đi đi. Cơm bến hết giờ Ngọ là nguội, mà thằng nhỏ xách giỏ đi hồi nãy đã lâu rồi."

Vết ố vuông vức in một dấu ẩm trên bậc đá, đúng chỗ ông vừa ngồi.

Hết Chương 42
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 43 →
← TrướcTiếp →