Tên lính gác khắc một vạch lên thẻ tre cho mỗi người ra cổng. Dao nhỏ, mũi cùn, vạch nào cũng lệch về bên phải. Tốp Kim Mộc cử một người, thằng Tỵ năn nỉ ông Cả cả buổi sớm mới được theo xách giỏ, thành hai. Ngãi tiễn ra tận cổng, áo nâu dính mùn, đứng như người chờ phát cháo.
"Hai," tên lính đếm. "Hai người, hai vạch. Chiều tối phải đủ hai vào."
"Đủ," Ngãi nói. "Không thiếu cái nào."
"Thiếu cái nào thì ông ở lại gánh."
"Ông gánh được thì gánh giùm," Ngãi nói. "Tôi đang cần người đỡ."
"Đỡ cái gì?"
"Đỡ cái miệng ông."
Tên lính lườm, nhưng khắc vạch thứ hai, lệch hơn vạch đầu.
Ra khỏi cổng, Kình xòe tay đếm lại. Chín chục đồng, mỗi người góp mười đồng, xâu bằng dây gai, nằm gọn trong lòng bàn tay chai. Cơm bến mười đồng một bát. Chín người, chín bát. Nó đếm hai lần mới tin con số khớp.
Mái chèo của thầy Đức buộc chéo sau lưng nó, bản chèo thò qua vai, gõ vào gáy mỗi bước. Thằng Tỵ xách hai cái giỏ tre đi sau, bước chân nhẹ như chân mèo.
"Chú Mái Chèo."
"Hả."
"Sao chú vác cái mái đó đi ăn cơm? Đi ăn cơm có cần chèo đâu."
"Để quen vai."
"Quen vai thì quen ở xưởng. Ra bến vác làm gì?"
"Tui sợ nó ở lán buồn."
"Cái mái thì buồn cái gì?"
"Nó ở lán suốt, ngày nào cũng nhìn tụi mình bào gỗ. Nó muốn coi sông."
"Chú nói như ông cụ."
"Ông cụ nào?"
"Cụ Khoan. Cụ hay nói chuyện với cái đục."
Tỵ cười khì, xách giỏ đi nhanh lên một bước. Cộc trên vai Kình ngồi im từ nãy. Nó nghiêng đầu về phía bến, hít một cái dài.
Bến Giám giữa buổi đông như chợ. Một chiếc thuyền lớn đang dỡ gạo, bao nào bao nấy to bằng thằng Tỵ. Lính khuân vai trần xếp hàng dọc theo ván cầu, mỗi người một bao, đặt xuống đúng hàng, quay lại. Giữa đám lưng trần, có một người quấn tấm chăn chàm gấp nhiều lớp qua vai. Giữa trời tháng Sáu.
Người ấy đặt bao xuống. Rút ở thắt lưng một cuốn sổ nhỏ, kẹp bút lông giữa hai ngón, ghi một dòng. Rồi mới quay lại thuyền.
Kình nhận ra cái cách cầm bút trước khi nhận ra mặt.
"Ổng đó," Cộc nói.
"Tui thấy."
"Chú Mái Chèo nhìn gì thế?" Tỵ hỏi.
"Không có gì. Mua cơm đi." Kình dúi xâu tiền vào tay thằng bé. "Mày mua chín bát, mua luôn cục kẹo của mày. Mang về trước, nói với ông Cả tui mua đá mài rồi về sau."
"Chú không ăn à?"
"Tui ăn ở đây."
"Ăn cái gì ở đây?"
"Ăn gió."
Tỵ ngó theo người lính quấn chăn, ngó không ra gì, rồi xách hai giỏ đi. Kình đứng lại ở đầu bến, sau một cột neo.
Người quấn chăn vác bao kế tiếp. Ông đi ngang qua nó, không dừng, không nghiêng đầu. Mặt ông gầy hơn, râu lún phún chưa cạo, mồ hôi chảy thành vệt dọc thái dương. Ông đặt bao xuống hàng. Rút sổ. Kình đứng đủ gần để đọc nét chữ: Bao thứ ba mươi tám.
Ông gập sổ lại, nhét vào thắt lưng, và lần đầu tiên nhìn vào cái mái chèo.
"Cái đó của tôi."
"Dạ."
"Cậu giữ hộ."
"Dạ, con giữ."
Kình chờ. Nó chờ câu sau, như đã chờ ở bến sông Cái, trên cột yết, ở mọi chỗ mà người ta gặp nó. Tên gì. Ở đâu. Làm gì.
Không có câu sau.
"Thầy không hỏi con ở đâu hả thầy?"
"Tôi không hỏi thì tôi không phải ghi."
"Ghi gì?"
"Chỗ cậu ở."
Cộc ghé sát tai Kình, đủ nhỏ để chỉ nó nghe. "Ổng ghi bao gạo mà không ghi người."
Thầy Đức không nhìn Cộc. Mắt thầy vẫn dừng ở bản chèo. "Bao gạo không trốn."
"Còn người thì trốn hả thầy?"
"Có người trốn. Có người không trốn mà sổ ghi là trốn." Ông sửa lại dây chăn. "Cậu giữ cán chèo có bị trầy không?"
"Dạ, trầy một chỗ. Con lấy sáp xoa rồi."
"Xoa mỏng thôi. Dày thì cán trơn."
"Dạ."
"Đi đi. Cơm bến hết giờ Ngọ là nguội."
Phía sau, cai bến quát một tiếng cho hàng lính khuân. Thầy Đức chỉnh lại tấm chăn trên vai, quay lại thuyền, bước xuống ván cầu đúng nhịp, y như mọi người.
Kình ngồi xuống bậc đá đầu bến. Nó không biết ngồi để làm gì. Gió từ sông thổi vào, mang mùi gạo mới và mùi bùn, mùi mồ hôi người vác. Nó đếm thầm theo mỗi lần tấm chăn chàm đi qua, một, hai, ba, như đếm nhịp mái chèo.
"Mày đứng lên đi theo ổng thì có chuyện," Cộc nói.
"Con không đi."
"Mày không đi mà mày ngồi đây cho ổng thấy."
"Con ngồi cho con thấy."
"Thấy gì?"
"Thấy ổng còn đứng được."
"Đứng được mà quấn chăn giữa hè."
"Chắc ổng lạnh."
"Lạnh cái đầu mày." Cộc gãi tai. "Ổng sợ mất đồ. Hồi trước ổng giữ sổ cho cả cái Giám, giờ ổng giữ cái chăn."
Kình không trả lời nữa. Bao gạo nối bao gạo chảy xuống từ thuyền, như một con sông khác. Tấm chăn chàm đi qua, đặt, ghi, quay lại. Được một lúc, nó thôi đếm lượt mà đếm người. Mười người đi qua, trong đó chỉ có một người không ngó vào mặt nó.
Bao thứ ba mươi chín. Bao thứ bốn mươi.
Thầy Đức đặt bao xuống hàng, ghi, gập sổ. Lần này ông không quay lại thuyền. Ông đi tới bậc đá, ngồi xuống cạnh Kình, để một khoảng trống bằng một bàn tay giữa hai người. Ông tháo gói lá chuối đeo bên hông, mở ra. Hai nắm cơm trắng, còn nguyên hạt, rắc muối vừng.
Ông đưa cho Kình một nắm. Không nói gì.
Kình cầm lấy. Nắm cơm còn ấm hơi người, ấm đúng chỗ bàn tay ông đã ôm nó suốt buổi sáng, trong lớp lá chuối đã hơi quắt lại vì nóng.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 42 →