Canh tư. Thợ rèn ngủ gục bên đe, đầu cúi sụp xuống ngực, tay buông thõng. Lò rèn chỉ còn lớp than hồng mỏng dưới tro.
Kình rút tấm ván đa khỏi đống củi. Tấm ván nhẹ, nhẹ đến mức nó tưởng mình cầm một tấm phên chứ không phải ba trăm năm gỗ. Thớ cuộn như rễ, mép dính vỏ sần, túm rễ khô lòa xòa chạm vào cổ tay nó như bàn tay ai. Nó kẹp ván vào nách, rón rén đi qua sân gỗ tối. Cộc ngồi trên vai, mắt xoay quanh, canh chừng lính gác.
Không ai thấy nó.
Về lán, nó quỳ xuống mép chiếu, gỡ một thanh ván sạp. Sạp nằm của tốp là những thanh ván ghép trên cọc thấp, kê dọc vách, bên dưới trống một gang tay. Nó cạy một thanh bằng đầu móng, nhấc lên, đặt tấm ván đa vào chỗ trống, ép vừa khít. Rồi nó đem thanh ván kê kia ra, đi lại ra đống củi, đặt vào đúng chỗ vừa hở. Từ xa nhìn vào, đống củi vẫn đầy như cũ.
Cộc thì thào ngay cổ nó, khi nó vừa chạm chiếu. "Mai lính đếm củi, thiếu một tấm thì sao?"
"Củi thì ai đếm."
"Giám đếm cả muỗng cơm."
"Củi không có phiếu." Kình nói nhỏ. "Với lại đống củi đầy, thay một tấm có ai biết."
"Thợ rèn biết."
"Thợ rèn ngủ."
Cộc không đáp. Kình nằm xuống chiếu. Đầu nó nằm ngay trên chỗ giấu.
"Mày giữ tao để làm gì?"
Giọng bà vọng lên từ dưới sạp, rất nhỏ, chỉ đủ một người nghe. Kình mở mắt.
"Để lò khỏi ăn bà."
"Lò không ăn tao thì ăn đứa khác."
"Con biết."
"Biết mà vẫn làm."
"Dạ."
Bà im. Trong bóng tối, tiếng thở Ngãi chen vào, đều đặn. Kình nghe thấy thằng Tỵ nằm xa hơn xoay người, chiếu sột soạt.
"Mày đứng phía nào, thằng nhỏ?"
Kình không trả lời. Nó nằm im. Mái chèo dựng đầu chiếu in một vệt đen thẳng lên vách. Cộc đã tụt xuống bụng nó, cuộn tròn, nặng như một cái ấm đất. Nó đặt tay lên chỗ ván sạp dưới gáy mình, thấy ấm. Rồi nó nhắm mắt.
Gà chưa gáy, nó đã tỉnh. Dưới sạp, giọng bà vọng lên, nhỏ như tiếng mọt.
"Sáng rồi. Cháu đừng nói với tao khi có người."
"Dạ."
"Tao không cần cháu nói. Tao chỉ cần cháu nghe."
"Dạ, con nghe."
"Ừ."
Nó cuộn chiếu, đè cán chèo vào vai. Sáng, trời còn xám, ông Cả gọi Kình ra bậc lán. Ông cầm một tờ giấy dài, dày, gấp nhiều nếp, mép sờn.
"Đọc."
"Dạ, tờ gì vậy ông?"
"Giấy cấp gỗ. Cai đưa tối qua. Đọc xem có thiếu cây nào không."
Kình đón tờ giấy, trải ra đầu gối. Giấy liệt kê từng dòng, nét chữ đều, mực đen. Mỗi dòng một cây: loại gỗ, nơi đốn, rồi một chữ son nhỏ ở cuối. Chữ son giống nhau từng dòng.
Nó đọc to.
"Lim. Đình làng ven sông. Đã thu sắc."
"Ừ."
"Mít. Miếu đầu xóm phía bắc. Đã thu sắc."
"Ừ."
"Lim. Gò đất cao, cạnh chùa. Đã thu sắc."
Nó đọc. Giọng đều đều, như nó vẫn đọc giấy cho bà bán cá. Từng dòng một. Cây nào cũng có nơi, cây nào cũng có chữ cuối. Ngãi ra bậc lán, ngồi xổm bên cạnh, vừa nhai bánh đa vừa nghe. Chú Hai Tạo đứng ở cột, hai tay buông.
"Đa. Bến đò thôn ven kênh. Đã thu sắc."
Giọng nó không đổi. Nó nghe giọng mình nói tiếp, đều, không vấp. Ông Cả nghiêng đầu, mắt nhìn xa.
"Hết rồi hả?"
"Dạ, hết."
"Cây nào tốp mình nhận?"
"Lim đình làng, cây đầu. Còn mấy cây kia, giấy ghi giao tốp khác."
"Đủ chưa?"
"Đủ." Kình đếm lại trên đầu ngón tay. "Mười một cây."
"Mười một." Ông Cả gật chậm. "Gỗ có giấy thì thợ đẽo."
"Dạ."
"Đa mềm," Ngãi nói, miệng còn bánh đa. "Đẽo làm gì? Chỉ đốt được."
"Giám cấp thì thợ đẽo," ông Cả đáp.
"Đẽo làm cái gì?"
"Làm cái người ta bảo."
"Ông Cả, tôi hỏi thật." Ngãi nuốt miếng bánh, ngẩng lên. "Chữ son cuối dòng là gì vậy, cậu Mái Chèo? Chữ nào cũng giống nhau."
Kình nhìn dòng cuối. Ba chữ đỏ, nhỏ, hơi nhòe.
"Là chữ cho phép đẽo."
"Cho phép?" Ngãi chớp mắt. "Gỗ cũng phải xin phép à?"
"Không. Người đẽo xin phép."
"Xin ai?"
"Xin người cấp giấy."
"À." Ngãi gật gù, cắn thêm miếng bánh. "Thế thì thợ có giấy là yên tâm rồi."
"Ừ."
Chú Hai Tạo không nói gì. Chú nhìn tờ giấy trên đầu gối Kình, rồi nhìn đi chỗ khác. Chú lấy trong túi ra nén hương, nhìn nó, cất lại.
"Hôm nay không thắp?" Ngãi hỏi.
"Đã thắp rồi."
"Chưa thấy chú thắp."
"Thắp từ sớm." Tạo quay đi.
Ông Cả đưa tay. Kình gấp giấy theo đúng nếp cũ, từng nếp một, trả lại. Nó thấy ngón tay ông chạm vào nếp gấp, vuốt nhẹ.
"Cậu đọc rõ," ông nói.
"Dạ."
"Giọng cậu không đổi."
"Dạ."
"Đọc giấy là phải thế." Ông Cả nhìn nó một lúc, rồi cầm tờ giấy đi vào lán.
Ngãi đứng dậy, vươn vai, đi theo. Kình ngồi lại ở bậc. Ngón út tay trái nó còn gập, chỗ nó đếm tới cây thứ mười một.
Nó đứng lên, lấy hòn đá mài và lưỡi cưa đợi dựa ở cột, ngồi xuống bậc lán, đẩy lưỡi cưa trên đá. Tiếng mài rít lên, từ khản sang trong.
"Mày đếm xong chưa?" Cộc hỏi, ngồi bên cạnh hòn đá.
"Xong."
"Mấy?"
"Mười một."
"Có bà trong đó không?"
"Có. Đa bến đò."
"Vậy là còn mười vị lò chưa với tới." Cộc gãi tai. "Hoặc đã với tới rồi mà mình không biết."
Kình không đáp. Nó đẩy lưỡi cưa dài hơn một nhịp, thật chậm. Nó mài cho tới khi sân xưởng còn xám, cho tới khi Tỵ dậy.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 36 →