Kình mang theo một chén chè nguội của tốp, loại chè xanh pha từ chiều, nước đục, lá nổi. Nó đặt chén xuống nền đất cạnh tấm ván xám có túm rễ khô, đặt nhẹ, hai tay, như người ta đặt chén nước dưới gốc cây. Cộc trên vai nó ngồi im, tai cụp. Cây mái chèo của thầy Đức nó dựng nghiêng bên chân, cán gác vào đống ván kê.
Canh ba lại tới. Lò rèn đỏ lửa. Hai thợ ca đêm đứng cạnh đe, giơ búa, nện, tiếng sắt vang lên rồi tắt, vang lên rồi tắt. Họ không ngó về phía đống củi.
"Nước Giám pha," giọng bà cất lên. "Nhạt."
"Dạ, thưa bà, nước chè của tốp."
"Chè tốp mà pha như nước vo gạo." Bà tặc lưỡi. "Thôi, có còn hơn không."
Kình ngồi xổm xuống. "Bà uống được không?"
"Tao có miệng đâu mà uống." Giọng bà không chua chát, chỉ thực. "Cháu đặt đó cho tao có chỗ nhìn."
Một con ruồi đậu lên mép chén. Kình xua nó đi.
"Cháu hỏi đi," bà nói. "Hôm qua cháu có nhiều chuyện muốn hỏi."
"Dạ... Bà ở bến đò lâu chưa?"
"Ba trăm năm."
"Ba trăm năm."
"Người ta đợi đò, ngồi rễ tao. Đứa nhỏ đu rễ tao." Giọng bà chậm, đều. "Dưới gốc có bà bán nước. Bà ấy ngồi bốn chục năm."
"Bà đó đâu rồi?"
"Chết rồi. Giọng bà ấy ở lại." Bà cười, một tiếng khô. "Tao nói giọng con mụ bán nước. Bốn chục năm nó ngồi gốc tao, nghe nó chào khách bốn chục năm. Nó chết thì giọng nó ở lại, tao mượn."
Kình im. Nó nhìn lửa lò nhảy trên mép ván. Nó thấy thớ ván cuộn như những ngón tay co lại.
"Sao bà bị chặt?"
"Giấy về."
"Giấy gì?"
"Giấy thu sắc. Người ta bảo giải phóng gỗ."
"Giải phóng là sao?"
"Là gỗ không còn ai." Bà nói chữ đó chậm hơn cả. "Hết người thờ, hết sắc, hết tên. Gỗ là gỗ. Đẽo được, xẻ được, đốt được."
Kình nắm lấy hai đầu gối. Ngón tay nó siết lại.
"Có người thờ bà không?"
"Có. Bà bán nước. Trước khi chết bà ấy dặn con bà ấy thắp cho tao nén hương." Giọng bà dừng. "Con bà ấy ở xa. Giấy về trước nó."
"Dạ."
"Đừng 'dạ' tao. Tao không dạy được ai điều gì."
Cộc huých nhẹ vào tai Kình, ý bảo nó đừng nói thêm. Kình không nói. Nó nghe tiếng búa trên đe, tiếng than nổ lách tách. Bà lại lên tiếng, lần này khác, thấp hơn, như đang cân nhắc.
"Cháu hỏi tao biết chuyện dưới miệt từ đâu, đúng không?"
"Con chưa hỏi."
"Cháu định hỏi."
"Dạ... thì định."
"Tin thần đi theo nước. Nước chỗ này chảy về tận miệt dưới." Giọng bà chợt gấp lên. "Năm kia có những tờ sắc đẹp quá, đẹp hơn cả sắc thật, phát cho thần đói ở miền Tây. Thần nhận. Nhận rồi đi giết người."
Kình thấy cổ họng khô khốc.
"Bà biết sao?"
"Tin đi theo nước, tao nói rồi." Bà ngừng. "Mấy tờ sắc đó ra từ một chỗ có tiếng gỗ, tiếng lửa. Giống chỗ này."
"Giống chỗ này."
"Tao không nói là chỗ này."
"Dạ."
Nó nhớ. Nó nhớ ông Gò, nhớ tờ sắc giả đẹp đến mức không ai dám nghi. Nó nhớ ông Năm Được lật con dấu dưới nắng, nheo mắt nhìn những nét giống nhau từng sợi mảnh, rồi nói một câu mà nó chưa quên: không phải tay người khắc.
Nó nhìn quanh. Lò rèn. Dãy lán. Phên tre. Tiếng dùi cui đâu đó còn gõ ca đêm, cộp, cộp, như một trái tim chậm. Nó không có tờ giấy nào để so. Nó không có con dấu nào để lật. Nó chỉ có lời một tấm ván.
"Cha," nó nói rất khẽ.
Cộc ghé sát tai nó. "Đừng tin hết."
"Dạ."
"Đừng bỏ hết."
"Dạ."
Bà Đa Bến nghe, bà không nói gì. Nhưng giọng bà đổi, chậm lại một cái, dịu lại một cái.
"Cái cán cháu dựng bên chân," bà nói. "Gỗ gì?"
"Dạ, mái chèo của thầy con. Con không biết gỗ gì."
"Mày hít thử."
"Hít làm gì?"
"Hít đi."
Kình do dự, rồi cúi xuống, ghé mũi lên cán chèo dựng bên chân. Cán chèo bóng, nhẵn, có mùi mồ hôi cũ, mùi bàn tay.
"Mùi người," nó nói.
"Mùi tay thầy mày. Cán này chưa bỏ ai." Giọng bà gần như ấm. "Gỗ nhớ tay lâu hơn người nhớ gỗ."
"Con biết."
"Biết thì giữ."
"Con xó nhà cháu biết nói đó."
"Dạ, bà."
"Nếu con gặp con bà bán nước," Kình nói, "con nói gì với người ta?"
"Cháu không gặp được đâu."
"Nếu con gặp."
"Thì nói tao còn nhớ nước vối." Bà ngừng. "Rồi thôi. Đừng nói nhiều, người ta khóc."
"Dạ."
"Cháu về ngủ đi. Mai còn mài cưa."
"Bà biết con mài cưa?"
"Ai ngồi bậc lán gà gáy mài cưa thì tao biết." Giọng bà gần như tiếng cười. "Tao nằm đây nghe hết."
Kình đứng dậy. Hai chân tê. Nó nhìn chén chè. Nó cúi xuống nhặt chén, định đổ đi.
Nước trong chén đã cạn một nửa.
Nó đứng yên, chén còn trong tay. Mặt nước lăn tăn nhè nhẹ, chỉ còn đáy chén lờ mờ. Mép chén ướt, sáng lên dưới ánh lò, in dấu một vòng tròn mờ, như môi ai vừa đặt xuống. Không có con ruồi nào. Tấm ván không có miệng. Nó đưa chén lên mũi. Nước chè xanh của tốp, vậy mà thoang thoảng có mùi vối, mùi lá phơi nắng, mùi quán nước đầu bến mà nó chưa từng đặt vào ấm nào ở xưởng này.
Cộc thò đầu ra khỏi cổ áo, nhìn cái chén, nhìn Kình.
"Cha thấy không?" nó hỏi.
"Thấy." Cộc rụt đầu vào. "Rót thêm đi."
Nó đứng như vậy rất lâu.
Rồi nó rót thêm nước từ ấm vào chén, rót cho đầy tới miệng, đặt lại chỗ cũ bên cạnh tấm ván. Nó quay về lán.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 33 →