Mùn cưa rơi xuống đầu Kình như mưa bụi, vàng nhạt, mịn, bám vào tóc, vào cổ áo, vào lông mi. Nó đứng trong hố cưa ở góc lán tốp, hai tay nắm đầu dưới cây cưa đợi, lưng cong, mặt ngửa. Trên miệng hố, Ngãi đứng giạng chân trên thân gỗ, tay kéo đầu trên. Lưỡi cưa đi xuống, nghiến vào thớ lim, rít một tiếng dài.
"Chậm," Ngãi gọi xuống. "Cậu Mái Chèo, cậu kéo lệch."
"Tui giữ thẳng mà."
"Thẳng thì lưỡi không kẹt."
"Lưỡi kẹt là tại gỗ."
"Gỗ có cãi được đâu." Ngãi cười, nghiến răng kéo lên. "Chỉ có cậu cãi."
Một giọng vang lên từ phía đầu lán, gấp, hơi hụt, kèm tiếng chân chạy.
"Học chính nghiệm thu! Học chính nghiệm thu!"
Là cai Lược. Giọng cai cao hơn thường lệ, như vừa nuốt phải cục than nóng.
Ngãi buông cưa. Cả lán nhốn nháo, tiếng dụng cụ đặt xuống, tiếng chân kéo lê, rồi im phăng phắc. Thợ đứng dậy, cúi đầu, tay buông thõng.
Kình ngồi thụp xuống đáy hố. Mùn cưa phủ lên vai nó, rơi tiếp, rơi mãi. Nó không dám cựa. Cộc lủi xuống cổ áo nó, nằm im như một cục bông.
Có tiếng giày. Giày vải mềm, bước đều, chân người bước không vội. Từ đáy hố nó chỉ thấy một khung hình nhỏ: nền đất lèn chặt, bụi cưa, rồi một đôi giày vải sạch, không dính bùn, và một vạt áo lam sẫm quét ngang miệng hố.
Giọng nói vang lên, nhẹ, lịch sự, từng chữ tách bạch như đếm ngón tay.
"Theo quy định, trục dài hai trượng bốn thước, sai số không quá hai tấc. Xin ông Cả cho đo."
Nó biết giọng này.
Cộc nằm yên. Nó cũng nằm yên.
"Mời," ông Cả nói.
Có tiếng gỗ sột soạt, tiếng thước gãy trượt ra khỏi thắt lưng. Dây gai chạm thớ lim. Đôi giày vải dừng lại cách miệng hố hai bước. Ông Cả đọc, bằng giọng đọc số quen thuộc.
"Hai trượng bốn thước một tấc."
"Một tấc." Giọng kia lặp lại. "Trong sai số."
"Đấy."
"Cấu kiện số mười bảy." Có tiếng ngón tay khẽ chạm nhau. "Trên bảy mươi hai. Hôm nay nghiệm thu được mười một."
"Mười bảy mộng," ông Cả nói. "Bốn mộng đực, mười ba mộng cái. Tôi đếm mộng."
"Tôi đếm số."
Im lặng. Mùn cưa rơi lách tách trên vai Kình. Nó thấy vạt áo lam khẽ động, như người đang suy nghĩ.
"Hai cách đếm," giọng kia nói, "đều đúng."
"Đúng cái của mình."
"Xin ông hiểu cho, tôi không có ý chê cách đếm của thợ."
"Tôi không bảo ông chê."
"Vậy thì tốt." Giọng kia chậm lại, chuyển nhẹ sang một chỗ thấp hơn. "Tốp có cần thêm gì không? Gỗ, đồ nghề, nhân công?"
"Cần biết trục quay về phía nào."
Khoảng lặng kéo dài. Kình nghe thấy tiếng nuốt nước bọt của cai Lược, ở xa.
"Xin ông hiểu cho," giọng kia nói, vẫn lịch sự, nhưng từng chữ mỏng hơn một nhịp. "Việc ấy không thuộc bản vẽ của tốp."
"Không thuộc."
"Không thuộc."
"Thế thôi."
Đôi giày vải quay đi, từng bước nhẹ như khi tới. Vạt áo lam rút khỏi miệng hố. Tiếng cai Lược khom lưng, cười hì hì, tiếng chân kéo lê theo sau. Rồi yên.
Kình ngồi dưới hố thêm một lát nữa, đợi mùn cưa thôi rơi. Rồi nó bám thành hố, leo lên, mùn cưa tuôn khỏi tóc, khỏi vai, trắng cả mặt đất xung quanh. Ngãi đưa tay kéo nó lên.
"Cậu có sao không?"
"Không sao."
"Mặt cậu trắng bệch."
"Mùn cưa."
"Ừ, mùn cưa." Ngãi nhìn nó thêm một lúc rồi buông tay. "Ông Học chính đo được cây lim mà không đo được cái gì khác. Thợ nào cũng sợ ông ấy, riêng tôi thấy ông ấy lạ."
"Lạ sao?"
"Lễ phép quá. Người lễ phép quá thì tôi sợ."
Đêm, lán tối, mấy người còn trở mình. Ông Cả ngồi ở bậc lán, đèn dầu đặt dưới chân, thước gãy ngang đùi. Kình ngồi xuống cách ông một sải tay.
"Ông Cả."
"Hử."
"Bản vẽ cả cái công trình ở đâu?"
Ông Cả vuốt dây gai quấn thước, chậm, từ đầu xuống cuối. "Thợ làm theo bản vẽ."
"Dạ."
"Đúng sai là việc người vẽ."
"Người vẽ là ai?"
"Người không đến xưởng."
Kình nhìn đốm lửa đèn dầu. Nó nhẩm. Mười bảy trên bảy mươi hai. Hôm nay nghiệm thu mười một. Bảy mươi hai mảnh, chia cho mấy tốp, mỗi tốp một lối đi, một phên tre. Không ai thấy mảnh của ai.
"Mảnh của tốp mình là số mười bảy hả ông?"
"Mười bảy." Ông Cả gõ ngón tay lên thước. Hai tiếng. "Mười bảy là của tôi. Các số khác là của người khác."
"Có tốp nào làm số một không?"
"Có."
"Ở đâu?"
"Ở đâu đó trong tường này."
"Ông không muốn biết hả?"
"Biết làm gì."
"Để biết cái này lắp vào đâu."
"Lắp vào chỗ người ta bảo." Ông Cả im một nhịp. "Cậu muốn biết hơn tôi."
"Dạ."
"Tôi biết cậu muốn." Ông nhìn Kình, lần đầu trong đêm. "Hỏi nhiều thì về sớm."
Kình không hỏi nữa. Ông Cả đứng dậy, vào lán.
Sáng hôm sau, Kình bưng ấm chè đi qua lò rèn. Lò đỏ rực ở góc xưởng, khói đen quấn lên mái, tiếng búa nện lên đe vang xa. Nó dừng chân.
Cạnh lò, một đống củi mới vừa được chất lên. Hai lính đang khiêng thêm từ xe ra, thả xuống nền đất. Củi là những tấm ván. Xám nhạt, xốp, thớ cuộn lại như rễ. Có tấm còn dính vỏ cây sần sùi. Có tấm còn nguyên một túm rễ khô, xơ xác, như tóc người.
Cai Lược đứng gần đó, nón dứa nghiêng, lau mồ hôi.
"Từ nay lò rèn đốt cả đêm," cai nói với thợ rèn, rồi nhìn quanh. "Ai canh lửa thì được thêm nửa bát cơm."
Kình xách ấm chè đứng đó. Hơi nóng từ lò phả lên mặt nó, nóng ran. Nó nhìn đống củi một lúc lâu, nhìn túm rễ khô nằm trên cùng. Một sợi rễ tuột khỏi túm, rơi xuống nền đất, nằm cong như một ngón tay.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 31 →