Cụ Khoan đẩy lưỡi đục qua lại trên hòn đá mài, nhịp đều như người ru con. Kình ngồi xổm bên cạnh, hai tay giữ một nắm đục chưa tới lượt. Cán nào cũng mòn bóng theo ngón tay của người khác.
"Cái này của thằng Ngãi," cụ nói, không ngẩng. "Nó mài ẩu. Mẻ một chút mà tưởng không ai thấy."
"Dạ, con thấy."
"Tôi lòa một mắt còn thấy. Cậu hai mắt lành mà không thấy thì cậu thấy cái gì?"
"Dạ, thấy cụ mài."
Cụ khịt mũi, nhưng cái khịt có chút cười. Nước hắt từ hòn đá lên mu bàn tay Kình, mát lạnh.
Đúng lúc ấy mõ đầu xóm gõ ba hồi.
Cụ Khoan dừng tay. Lưỡi đục còn áp trên đá. Ở xóm này mõ gõ ba hồi là có người từ ngoài vào, không phải có chuyện làng.
"Cậu cầm chắc cán," cụ nói. "Đừng buông."
Cai Lược đi trước, nón dứa hất ra sau gáy, cười từ cổng tre cười vào. Sau lưng cai là một người áo lam đội khăn, tay cầm ống tre dài, và bốn lính cầm giáo, giày đóng đế đạp bụi mù. Thợ từ các sân bỏ đồ nghề chạy ra, đứng thành vòng quanh bàn thờ tổ ở nhà chung. Bà Hợi ôm rổ gạo, đứng tuốt phía cuối.
Người áo lam bước lên bậc, rút một tờ giấy dày khỏi ống tre, giũ ra. Con dấu đỏ nằm dưới chân tờ giấy, mới tinh, nét còn sắc.
Ông đọc một hơi, giọng Hán Việt trầm, không ngắt chỗ nào.
"Sùng Văn Giám truyền. Nay trưng tập thợ phường Kim Mộc phục dịch công trình của Giám, hạn một năm. Công ba tiền một ngày, cơm Giám lo. Kẻ nào đào tẩu, phường chịu tội."
Thợ đứng nghe như nghe mưa rơi ngoài hiên. Không ai nhúc nhích.
"Mái Chèo," ông Cả nói. "Đọc lại. Bằng tiếng người."
Kình đặt nắm đục xuống chân cụ Khoan, đi vào giữa vòng. Người áo lam chìa tờ giấy cho nó, đôi mắt nheo lại. Nó cầm, dò ngón tay dưới từng dòng.
"Dạ. Giám kêu thợ xóm mình làm cái công trình của Giám. Làm một năm." Nó ngừng. "Phục dịch là làm mà không về được."
Có tiếng xì xào chạy quanh vòng người.
"Ba tiền một ngày. Giám lo cơm. Còn chữ cuối, đào tẩu là bỏ trốn. Một người trốn thì phường chịu."
"Phường chịu là sao?" Một thợ già hỏi.
"Là một người trốn thì cả xóm bị phạt."
Bà Hợi giơ rổ gạo lên, hỏi to từ cuối đám: "Giám lo cơm thì lo cơm gì? Gạo mới hay gạo hẩm? Có mắm không?"
Người áo lam quay lại, nhìn bà, rồi nhìn Kình.
"Xóm thợ cũng có đứa đọc chữ à?"
Cai Lược chen lên trước, cười híp mắt, hai bàn tay xoa vào nhau. "Dạ bẩm, thằng ấy đọc khế ước cho phường. Đọc thì khá, viết như gà bới. Cho nó cầm đục còn hơn cầm bút."
"Xóm có người lạ không?"
"Có người lạ thì tôi chịu trước." Cai chắp tay ngang bụng. "Xóm này không có người lạ."
Kình đứng im, tờ lệnh còn trong tay. Cai không nhìn nó. Cai nhìn thẳng người áo lam, trán lấm tấm mồ hôi, và nó hiểu ra: cai không bênh nó. Cai bênh cái cổ cai.
Ông Cả bước lên một bước. Thước gãy đung đưa bên thắt lưng.
"Công trình gì?"
"Việc của Giám."
"Gỗ gì? Bao nhiêu cột?"
"Không phải việc của thợ."
"Không biết bao nhiêu cột thì không biết mang bao nhiêu đục." Giọng ông Cả vẫn bằng bằng, như đang đọc số đo. "Đấy."
Người áo lam nhìn ông, lâu hơn cần. "Mang hết."
Ngãi đứng sau lưng Kình, huýt sáo khẽ một hơi, rồi ghé sát tai nó.
"Ba tiền không qua tay cai. Việc Giám, cai nào dám."
Cai Lược nghe thấy. Cai quay lại, mắt vẫn híp, miệng vẫn cười. Cai không cãi.
Người áo lam cuộn tờ lệnh lại, rút trong ống tre ra một cuốn sổ mỏng, lật tới một trang, bảo cai đọc tên các sân để ghi. Một lính bước tới đặt con dấu gỗ lên trang sổ, ấn xuống, nhấc lên. Ô vuông đỏ hằn trên giấy, sắc cạnh. Kình nhìn nó thật lâu. Ông Sáu khắc nó ở cuối xóm, gửi lên Giám chưa tới mười hôm, lúc ấy nó chỉ là một mặt gỗ thị.
Xong việc, thợ tản ra từng nhóm, nói nhỏ. Không ai nói to.
Người áo lam đi ra cổng tre. Ở đó ông rút từ ống tre một tờ giấy khác, quệt hồ lên mặt sau bằng chổi nhỏ. Thợ vừa tản lại dừng. Ông dán tờ lệnh lên cột trước, ấn tay vuốt phẳng. Rồi ông dán tờ thứ hai ngay bên cạnh, mép chạm mép.
Tờ thứ hai Kình đọc từ xa, không cần lại gần. Nó đã đọc đúng tờ này một lần, ở bến sông Cái.
Truy nã tội phạm gọi chui, tên Kình, không họ.
Dưới chân tờ giấy là ô vuông son. Bốn cạnh thẳng, giữa trống trơn.
"Ai đó," người áo lam nói vọng về phía cai Lược, giọng thản nhiên, "nếu thấy kẻ này thì báo ngay. Thưởng năm quan."
"Dạ, bẩm, xóm này không có." Cai cúi người sâu. "Hồi giờ không có."
Đám thợ đi ngang cột cổng, mắt liếc tờ giấy rồi liếc đi nơi khác. Không ai dừng. Không ai đọc. Một thợ trẻ hỏi người bên cạnh giấy ấy ghi gì, người kia nhún vai.
Lính đi rồi, tiếng giày xa dần trên đường đất.
Kình đứng trước cột. Hai tờ giấy nằm cạnh nhau. Một tờ có dấu Giám đỏ đặc. Một tờ có ô vuông đỏ rỗng.
Cộc nằm yên trên vai trái nó, nặng như một hòn đá nhỏ.
Sau lưng, cụ Khoan gọi, giọng chậm: "Cậu Mái Chèo. Cái đục."
Kình quay lại. Cụ Khoan vẫn ngồi chỗ cũ, tay chìa ra. Nó mới biết nó vẫn nắm lưỡi đục chưa mài xong, cầm hộ cụ từ lúc mõ gõ, chưa buông.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 22 →