Sáng mồng sáu, cai Lược đi qua sân nhà chung, cười nhiều hơn thường lệ. Thợ đang ngồi quanh nồi cháo, cầm bát, mắt dõi theo cái túi vải đựng giấy ở hông ông.
"Năm nay có việc lớn," cai nói, giọng hớn hở. "Việc của Giám."
"Việc gì vậy cai?" một thợ hỏi.
"Chưa có giấy."
"Có giấy thì sao?"
"Có giấy thì thằng Mái Chèo đọc." Cai liếc Kình, đang đứng ở cột. "Việc Giám thì không ai dám ăn chặn. Công Giám trả đủ."
"Đủ là mấy tiền?" một thợ trẻ hỏi, mắt sáng lên.
"Chưa biết. Nhưng đủ."
"Giám bắt đi bao lâu cai?" một ông thợ già hỏi, giọng khác hẳn.
"Đừng nói bắt." Cai nhăn mặt. "Giám trưng dụng. Trưng dụng thì có phần thưởng."
"Thưởng gì?"
"Cái đó thì đọc giấy mới biết."
Ngãi húp một ngụm cháo, nhìn quanh. "Cai ít khi cười to vậy."
"Cai cười to là cai sợ," một thợ đáp nhỏ.
"Hay cai mừng?"
"Mừng hay sợ cũng cười."
Bà Hợi ngồi bên bậc bếp, cuốn sổ hình mở trên đùi. Bà nghe hết. Rồi bà gập sổ lại, que than kẹp giữa hai ngón, không vẽ gì.
Kình cầm gói nhỏ, đi theo con Mẹt sang cuối xóm. Nhà ông Kiều Đình Sáu, thợ khắc dấu gỗ, nằm sát bờ ao, cửa sổ rộng mở. Bàn khắc kê sát cửa. Một vệt sáng duy nhất rọi xuống mặt dấu gỗ thị đang khoét nền, phoi li ti nằm trên mặt bàn như bột.
Ông Sáu ngồi bên bàn, kính đồi mồi một mắt nứt, ngón cái phải có vết sẹo dao. Ông không ngẩng đầu.
"Mày là con ông Cả."
"Cháu, ông Sáu." Mẹt chìa xâu tiền. "Cháu đổi một xâu lấy cái chàn nhỏ."
"Cái chàn cũ." Ông chìa tay lấy xâu tiền, nhìn qua kính, rồi đặt xuống. "Trong hộp kia. Tự lấy."
Mẹt lục hộp. Ông Sáu quay sang Kình, vẫn cúi nhìn mặt dấu.
"Nghe bảo mày đọc sào cho quan Đàm."
"Dạ."
"Đọc xuôi giỏi."
"Dạ, tui đọc được."
"Đọc ngược được không?"
Ông đẩy mặt dấu đang khắc dở về phía nó. Chữ khắc nổi, ngược, trên nền gỗ thị vàng nhạt. Kình cúi xuống. Nó nhìn một lúc. Hồi ở Thất Sơn, khách mang giấy tới chợ, có người cầm ngược, có người úp mặt, nó quen đọc từ phía đối diện.
"Sổ thợ phục dịch," nó đọc, trơn tru.
Ông Sáu bỏ kính xuống. Lần đầu ông nhìn nó bằng cả hai mắt.
"Thợ khắc mười năm mới đọc ngược như thế."
"Dạ, tui chỉ quen thôi."
"Quen bằng cách nào?"
"Dạ, ngồi chợ."
"Chợ nào cũng có kẻ ngồi chợ." Ông đeo kính lại, cúi xuống. "Đâu phải ai cũng đọc được."
"Dấu này của ai ông Sáu?"
"Ty Bách Tác." Ông cầm dao khắc, thổi phoi. "Khắc gấp. Hạn năm ngày."
Bên cạnh mặt dấu có một tờ mẫu mỏng, dán úp lên gỗ để khắc. Chữ trên giấy hiện ngược, đỏ, sạch. Kình đọc từ trên xuống. Một dòng, hai dòng. Dòng thứ ba: phường Kim Mộc.
Nó dừng lại.
Ông Sáu thấy. Ông không ngẩng.
"Tao khắc tên xóm tao vào dấu của Giám," ông nói. "Lỡ tay là phá nét."
"Dạ."
"Tao không lỡ tay."
Ông khoét tiếp, mũi dao tuyệt đối chính xác. Kình đứng nhìn bàn tay ông, ngón cái sẹo ép lên cán dao.
"Ông Sáu," Kình hỏi. "Ngược xuôi khác nhau thế nào ông?"
"Xuôi là chữ của người đọc. Ngược là chữ của người in." Ông không ngừng tay. "Thợ khắc phải biết cả hai. Biết một thì khắc sai."
"Vì sao ông?"
"Vì dấu in ra mới là chữ xuôi. Mặt dấu thì khắc ngược." Ông chỉ cái nền gỗ. "Cho nên thợ khắc sống trong cái nhà ngược cả đời."
"Ông có thấy mệt không?"
"Quen." Ông gõ cán dao xuống bàn. "Quen mệt thì thành nghề."
Mẹt chọn xong cái chàn, chùi bụi, nhét vào tay áo. "Cháu đi ông."
"Đi. Đừng làm mất."
"Mất thì cháu khoét cái chàn khác."
Ông Sáu cười khẩy một cái. Kình và Mẹt ra tới bờ ao, đi sát nhau trên con đường đất hẹp.
"Mày thấy cái dòng thứ ba không?" Mẹt hỏi.
"Thấy."
"Tên xóm mình."
"Phải."
"Giám khắc tên xóm mình để làm gì?"
"Tao không biết."
"Mày đọc được chữ mà không biết nó để làm gì?" Mẹt hậm hực. "Chữ đọc được mà không biết nghĩa thì còn tệ hơn chữ không đọc được."
"Tao biết nghĩa chữ. Tao không biết nghĩa việc."
"Hai cái khác nhau?"
"Khác. Như mộng với nhà."
Mẹt nhìn nó, rồi bật cười. "Mày học nhanh đấy."
Tối, nhà chung chỉ còn ngọn đèn dầu. Kình ngồi đối diện ông Cả, Cộc trên vai. Nó kể hết: cai Lược, ông Sáu, mặt dấu, dòng thứ ba.
Ông Cả nghe. Ông rút cây thước gãy khỏi thắt lưng, đặt lên đùi, không đo gì.
"Giám xuống thì Giám hỏi," ông nói. "Xóm không biết mày là ai. Không biết thật."
"Tờ trình của quan Đàm ghi kẻ lạ."
"Xóm này đầy kẻ lạ. Ai vào đây cũng lạ một lần."
"Nếu Giám bắt phường?"
"Thì phường đi."
"Còn con?"
"Phường đi thì mày đi cùng." Ông Cả nhìn đèn. "Lẫn trong phường."
Kình im. Cộc trên vai nghe hết, không chen một câu.
"Ông Cả."
"Nói."
"Ông không sợ ngày đó sao?"
"Sợ." Ông gõ ngón trỏ lên đầu thước gãy. "Sợ thì vẫn ngồi đây."
Năm ngày sau, ông Sáu cho học trò mang con dấu đã khắc xong lên Giám. Trước khi gói, ông đóng thử một dấu son lên mẩu giấy vụn, để trên bàn khắc. Kình đi ngang, thấy, nhặt lên.
Một ô chữ đỏ, sắc cạnh. Đọc xuôi. Sổ thợ phục dịch.
Nó gấp tư mẩu giấy, nhét vào bọc vải nâu giắt lưng, nằm cạnh con dấu sừng trắng mặt trống. Hai nút chỉ đỏ vẫn buộc như cũ. Nó không thắt thêm.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 21 →