Sáng sớm, ghe mắt vẽ quay lại bến sông Cái. Một quán cơm đầu bến đặt sáu tấm ván để đóng lại cái phản, người nhà quán đã đứng chờ dưới gốc gạo.
Ông Cả, gã cao gọi ông như vậy suốt từ tối qua, đứng mũi ghe đếm ván bằng ngón tay.
"Giờ Tỵ nhổ sào," ông nói, không quay lại. "Ai đi đâu thì đi. Giờ Tỵ có mặt."
Không ai hỏi ai đi đâu. Gã cao và người gầy khiêng ván lên bờ. Con bé tóc tết ngồi lại trên đống gỗ mít, lấy cái đục nhỏ gõ gõ vào một khúc gỗ như gõ cửa.
Kình vác mái chèo lên bến.
Nó men theo dãy ghe neo. Ghe chở than, ghe chở muối, ghe chở rau, mũi ghe nào cũng quay về một phía như đàn vịt ngủ. Nó nhận ra cái ghe từ xa. Mui lá vá ba chỗ, chỗ vá mới nhất màu lá còn xanh. Cái cọc chèo ở đuôi trống trơn, đầu cọc mòn bóng thành một rãnh vừa một cán chèo.
Một thằng nhỏ trạc mười hai, mười ba ngồi trong khoang, cầm gáo dừa tát nước. Trên mui, một bà già nhỏ người, khăn vấn, áo nâu, ngồi bóc đậu đỏ vào rổ. Quang gánh hai thúng đặt bên cạnh.
Bà ngẩng lên. Bà thấy cái mái chèo trước. Rồi mới thấy mặt.
Bà không kêu. Bà không đứng dậy. Bà vỗ tay xuống chiếu hai cái.
"Ngồi. Bà xuống đây ba hôm rồi."
Kình leo lên mui, ngồi xuống, đặt mái chèo dọc mạn. Bà Tư Hến vẫn bóc đậu, ngón tay cái tách vỏ nhanh như không cần nhìn.
"Sao bà biết con xuống đây?"
"Cổng Giám dán ba tờ giấy có chữ Kình. Đầu ngõ quán bà dán một tờ." Bà thả một nắm hạt vào rổ. "Bà đọc không được, có cậu sĩ tử đọc cho. Bà nghĩ, thằng ấy bị dán giấy thì nó phải đi tìm cái gì của nó. Nó có cái gì ở cái thành này đâu. Chỉ có cái ghe."
"Dạ."
"Thế là bà xuống ngồi đây. Bán chè ở đây cũng được. Dân bến uống chè nhiều hơn sĩ tử."
Bà mở cái thúng, lấy ra một nắm xôi đậu đỏ gói lá chuối, dúi vào tay nó. Lá chuối còn ấm.
"Đậu là đỗ," bà nói. "Cháu đỗ rồi mà người ta vẫn dán giấy. Thế thì ăn cho chắc bụng."
Kình cầm nắm xôi. Nó nhớ chén chè đầu tiên bà múc cho nó không lấy tiền, hồi nó còn chưa biết chữ nào. Nó bóc lá, cắn một miếng. Xôi dẻo, đậu bùi, mặn một chút muối vừng.
"Thầy Đức có về không bà?"
"Chưa ai về." Bà lắc đầu. "Thằng cháu bà giữ ghe, ngày nào cũng tát nước, đêm nào cũng đốt một cây nhang ở mũi. Ông thầy dặn vậy."
"Dặn hồi nào bà?"
"Hồi gửi ghe. Ông bảo ghe không có người thì phải có lửa." Bà nhìn sang cái mái chèo. "Thế mà ông ấy đem mái theo, giờ cháu lại vác mái về."
Kình định nói nó sắp đi đâu. Nó mở miệng.
Bà giơ tay chặn, lòng bàn tay còn dính vỏ đậu.
"Đừng kể. Bà già rồi, ai hỏi bà cũng khai. Lính hỏi bà khai, quan hỏi bà khai. Cháu không kể thì bà không có gì mà khai."
"Dạ."
"Cổng Giám có lính. Ngõ quán bà có lính. Cháu đừng lên đấy."
"Dạ, con không lên."
"Ăn đi."
Kình ăn hết nắm xôi. Bà bóc thêm một nắm đậu nữa. Thằng cháu trong khoang tát xong nước, ngồi phệt xuống, ngó cái mái chèo trên mui.
Kình đứng dậy, bước ra đuôi ghe. Nó nhấc cái mái chèo, đặt cán vào cọc chèo.
Vừa khít. Cán chèo trượt vào cái rãnh mòn như trượt vào chỗ của nó, không lỏng, không chật. Giống hồi nó lắp mái vào cọc thuyền buôn than ở bến dưới ghềnh, chỉ khác lần ấy là cọc lạ.
Nó đứng ở đuôi ghe, tay nắm cán chèo. Dưới chân, ván ghe cũ, mấy chỗ đã thủng được trét lại bằng dầu rái. Chỗ thầy Đức hay ngồi ghi sổ còn một vết mực khô loang hình con cua.
"Anh lấy ghe à?" Thằng cháu hỏi.
Kình đứng lâu.
Rồi nó rút cái mái chèo ra khỏi cọc.
"Ghe của thầy. Thầy về thầy lấy."
"Thế anh giữ cái mái làm gì?"
"Giữ hộ."
"Giữ hộ ai?"
"Giữ hộ thầy."
Thằng cháu gãi đầu. "Ghe không có mái thì thầy về chèo bằng gì?"
"Thì tui đem trả."
Bà Tư Hến không nói gì. Bà bóc tiếp đậu. Một hạt đậu tuột khỏi tay bà, lăn trên mui, rơi xuống sông kêu tõm một tiếng nhỏ.
Cộc trên vai Kình ngó xuống chỗ hạt đậu rơi.
"Bà già này khôn," Cộc nói nhỏ. "Không hỏi mà biết hết."
"Bà bán chè cho sĩ tử ba chục năm."
"Ba chục năm thì đứa nào nói láo bả cũng biết." Cộc gãi tai. "Mày đi đi. Đứng lâu bả khóc."
"Bả không khóc."
"Thì mày khóc."
Gần giờ Tỵ, Kình cúi chào bà Tư Hến. Bà không ngẩng lên, chỉ gật một cái vào rổ đậu.
Nó vác mái chèo đi ngược dãy ghe. Ghe mắt vẽ vẫn neo chỗ cũ, sáu tấm ván đã lên bờ. Ông Cả đứng mũi. Kình không biết ông đứng đó từ lúc nào. Từ chỗ ông đứng nhìn được hết dãy ghe, từ đầu bến tới cuối bến, nhìn được cả cái ghe mui lá vá không có mái chèo.
Ông không hỏi.
Con bé tóc tết hỏi thay.
"Ghe nhà mày à?"
"Ghe thầy tao."
"Thầy mày đâu?"
"Mẹt," gã cao gắt nhỏ, vừa nhảy xuống ghe. "Ở xóm mình không hỏi."
Con bé bĩu môi, quay đi, gõ cái đục vào khúc gỗ mít mạnh hơn.
Ghe nhổ sào. Kình ngồi ở đuôi, cây mái chèo gác ngang đùi. Nó ngoái lại một lần.
Cái ghe mui lá vá nằm yên ở bến, cọc chèo đuôi trống. Bà Tư Hến đã đứng dậy trên mui, giơ cái rổ đậu lên cao, lắc lắc, như người ta vẫy.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 3 →