Ba trăm quan xếp thành chồng trên chiếu giữa sân nhà chung, xâu nào sát xâu nấy, màu đồng cũ lấp lánh dưới nắng. Bà Hợi ngồi giữa chiếu, cuốn sổ hình mở trên đùi, que than kẹp giữa hai ngón. Thợ đứng thành vòng, im lặng, mắt dán vào chồng tiền như dán vào một con vật lạ.
"Hình cái búa," bà gọi.
Một ông thợ tóc bạc, người trước nay vẫn giữ búa cho phường, tiến lên. Bà đếm xâu tiền, đặt vào tay ông, vẽ một vạch than cạnh hình cái búa. Ông cầm tiền, tay run, không nói được câu nào. Ông gật, lui ra.
"Hình cái đục."
Ngãi bước lên. Bà đếm. Ngãi nhận, nhìn xâu tiền, nhìn bà.
"Đủ không bà?"
"Đủ. Phần của cha mày hồi xưa, cộng lãi." Bà vẽ vạch. "Cầm lấy rồi đi mua đục."
Chiều ấy, Ngãi ôm một cái đục mới như ôm con. Gã khoe hết xóm, mở bao vải ra cho thợ nào cũng xem. Lưỡi đục sáng, cán gỗ dổi, mùi dầu còn thơm. Kình đứng nhìn, thấy gã cười hở cả lợi mà mắt đỏ hoe.
"Cậu thử nắm đi."
"Dạ, tui không dám."
"Nắm thử đi, nó có cắn đâu." Ngãi dúi cái đục vào tay nó. "Đây, thấy không? Nắm thế này là biết thợ."
"Biết gì anh?"
"Biết nó nhẹ. Đục cũ nặng quá, thằng nào cầm cũng thấy mệt." Gã nhìn cái đục, giọng khàn. "Cha tôi cầm đục cũ cả đời."
Kình không nói gì. Nó trả đục lại, nhẹ nhàng.
Con Mẹt nhận phần của nó, dúi ngay một nửa vào tay bà Hợi. "Bà giữ."
"Giữ làm gì? Tiền của mày."
"Để đó, lúc nào cần thì lấy." Mẹt quay sang Kình. "Nửa kia, đổi mười chữ mới."
"Mười chữ ngày nào?"
"Ngày nào cũng được."
"Sao phải mười?"
"Vì năm không đủ, mười thì thừa." Mẹt hất cằm. "Mày không dạy thì tao khoét cái ván nhà mày."
"Ván nhà tui là cái phản."
"Thì khoét cái phản."
"Mày muốn chữ gì trước?"
"Chữ tên tao."
"Tên mày là Mẹt."
"Tên tục thôi. Tên thật..." Mẹt ngập ngừng, rồi nhún vai. "Thôi, viết Mẹt. Viết cho cái ván nhớ."
Bà Hợi cười, gọi tiếp. Tới hình cái mái chèo, tiếng bà dừng.
"Thằng Mái Chèo không có phần trong đợt công năm ấy," bà nói với ông Cả.
"Nó đọc." Ông Cả đứng ở rìa vòng, tay buông thõng. "Đọc cũng là công. Vẽ cho nó một vạch."
Bà Hợi cười, vẽ một vạch than cạnh hình cái mái chèo. Không đưa tiền, chỉ vẽ. Kình nhìn vạch ấy. Vạch đen, ngắn, thẳng.
Một bà vợ thợ đứng sau lưng chồng, giữ cái bao vải mở sẵn, nhưng khi bà Hợi đếm xong, bà chỉ nhìn bao vải mà không bỏ tiền vào. Chồng bà lấy tay đẩy nhẹ.
"Bà bỏ đi."
"Nặng quá. Tôi sợ rơi."
"Rơi thì nhặt."
"Nhặt rồi lại rơi." Bà cười, nước mắt lăn xuống cằm. "Từ hồi lấy ông tới giờ, tôi chưa cầm cái gì nặng như vầy."
Mấy thợ già nhận phần của cha, của chú đã chết. Một ông thợ gầy nhận xâu tiền xong ngồi bệt xuống đất, hai tay ôm đầu.
"Hình con mắt có một vệt ngang," bà Hợi gọi.
Cụ Khoan ngồi ở bậc thềm, không đứng lên. Ống tre đen bóng đặt trong lòng cụ.
"Phần tôi chia cho nhà hai người kia."
"Nhà họ có phần rồi," ông Cả nói.
"Thì chia thêm."
"Cụ..."
"Chia." Cụ ôm ống tre sát hơn. "Thiếu một đồng thì vẫn thiếu."
Cụ không mở nắp ống. Không ai nhắc nắm dăm. Không ai nói đến lễ đưa dăm tống mộc. Ông Cả đứng một lúc, chắp tay trước cụ, rồi quay đi.
Giữa lúc ấy, có tiếng bước chân ngoài cổng tre. Tạc bước vào sân, một mình, không mang ô. Tay ông cầm một gói giấy bản buộc lạt.
"Cậu Mái Chèo." Ông dừng lại trước Kình. "Của cháu gửi."
Kình nhận gói. Nó mở ra. Kẹo mạch nha, màu hổ phách, dính vào nhau thành một cục. Giấy bản còn ấm tay ông.
"Cháu nhắn: anh thợ giữ chong chóng."
"Dạ. Tui giữ."
"Cháu đã uống thuốc." Tạc cười thoáng. "Cháu bảo anh hứa thổi hai lần."
"Hôm sau tui thổi rồi."
"Cháu bảo thổi nữa."
Rồi Tạc xin gặp ông Cả. Hai người đi ra góc sân. Kình đứng gần cột, nghe được.
"Quan lớn viết tờ trình lên Giám," Tạc nói, giọng thấp. "Tôi chép hộ. Viết rằng xóm Kim Mộc giữ bùa trái phép, ếm nhà quan. Có một kẻ lạ, không rõ lai lịch, gọi được bùa." Ông nuốt khan. "Trong hạn định Giám sẽ cho người xuống xét. Tôi báo các ông."
"Cảm ơn ông," ông Cả nói.
"Tôi chép xong thì tôi đi báo. Thế thôi."
Câu "trong hạn định" làm Kình ngẩng đầu lên. Nó nhớ thầy Đức cũng nói câu ấy ở hiên nhà ngoại, chiều hôm đưa lệnh. Nó nhớ thầy đứng ở đâu, cầm tờ lệnh thế nào, ống tay áo chàm xắn tới đâu. Nó lẩm nhẩm lại để nghe giọng thầy trong đầu.
Chỉ có giọng nó.
"Trong hạn định." Nó nói lại, trầm hơn. Rồi chậm hơn. "Trong hạn định."
Cộc trên vai nghiêng đầu. "Mày nhại ai?"
"Nhại thầy Đức."
"Không giống."
"Con biết."
Nó khép miệng. Nó không nói thêm.
Ngãi lại gần, hạ giọng. "Cậu có nghe câu đó thì đừng nghĩ nhiều."
"Câu nào anh?"
"Câu trong hạn định. Giám nói suốt, nghe quen rồi."
"Dạ."
"Mà cậu nghe lần này thấy lạ hơn mọi lần, đúng không?"
"Tui thấy... không giống."
"Thế thì nghĩ ít thôi." Gã vỗ vai nó. "Nghĩ nhiều chẳng ăn thua. Có đục mới thì đục."
Chồng tiền trên chiếu đã thưa dần. Thợ tản ra từng cụm nhỏ, nói chuyện nhỏ, như sợ làm ai thức giấc. Bà Hợi gập sổ hình lại, đứng dậy vươn vai.
Đêm, ông Cả đi một vòng quanh xóm như mọi đêm. Ông tới nhà chung, vào gian giữa, dừng trước bàn thờ tổ. Ông rút cây thước gãy ra khỏi thắt lưng, đặt nằm ngang trước bài vị. Ông vái ba vái. Lâu.
Rồi ông cầm thước lên, giắt lại thắt lưng, đi tiếp.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 16 →