Ghe mui lá vá ba chỗ cập bậc đá bến Tre Ngâm lúc trời còn xám. Mặt nước nâu nhạt, sương đọng thành tầng mỏng sát mặt sông. Chỗ vá mới nhất trên mui đã ngả màu, không còn xanh như hồi nó thấy lần đầu. Cọc chèo ở đuôi trống, đầu cọc mòn bóng thành một rãnh vừa một cán chèo.
Kình bước xuống ghe, ghe nhún nhẹ. Nó cầm mái chèo, đưa cán vào cọc. Nút chỉ chàm Piên buộc nằm đúng chỗ tay cầm, một cục xanh sẫm bé xíu giữa đoạn gỗ sờn.
Cán chèo trượt vào rãnh, vừa khít. Không lỏng, không chật.
Thầy Đức ngồi trên mui, lưng dựa cột mui, quyển sổ bìa chàm đặt trên đầu gối. Ông vẫn mặc áo lính khuân, vạt áo xỉn bụi. Ông viết, nét bút đều, chậm. Kình ghé qua vai ông, đọc.
"Lính khuân nghỉ phép không lương một tháng. Chở một người quen."
"Thầy vẫn không ghi tên con."
"Tôi không hỏi."
"Đi đâu vậy thầy?"
"Đi rồi mới ghi."
Thầy Đức viết thêm một dòng, rồi đọc to, giọng như đọc giá gạo: "Mười bảy tháng Giêng, đoàn Giám đi phía nam, y quan Đường Tôn Khiêm tùy hành."
Kình đứng sững.
"Thầy Khiêm đi đâu?"
"Phía nam." Thầy Đức gấp trang. "Tôi chỉ ghi được đến đó."
"Thầy ghi để làm gì?"
"Ghi để có." Ông ngước lên, cặp mắt quen thuộc, không biểu lộ gì. "Cậu hỏi tôi ghi để làm gì, tôi hỏi cậu cầm mái chèo để làm gì?"
"Để chèo."
"Thế thì chèo."
"Thầy ăn sáng chưa?"
"Chưa."
"Bà Hợi gói xôi lá chuối, con để dưới khoang."
"Bà ấy gói cho cậu."
"Bà gói hai phần. Một phần của thầy."
"Bà ấy biết tôi đi?"
"Bà biết thầy ăn."
Thầy Đức dừng bút một nhịp. Rồi ông viết thêm vào lề trang, rất nhỏ: một gói xôi lá chuối. Kình thấy, và không nói gì.
Kình quay đầu nhìn sang phía bên kia bến.
Piên đứng ở mạn một chiếc ghe ngược chở muối, bậc bến bên kia, gùi trên lưng, tóc tết một đuôi buông trước ngực. Ghe muối nặng, mạn thấp sát mặt nước, bao muối xếp cao, bọc cói trắng xám. Ấn gỗ vẫn nằm trong gùi, cô không nộp. Hai đứa đứng hai mạn, cách nhau một khoảng nước.
"Piên đi ngược, mà nè," Piên nói. Giọng cô bay qua mặt nước, nhỏ và rõ.
"Tui đi xuôi."
"Kình nhớ ăn cơm."
"Piên cũng vậy."
"Kình nhớ ăn cơm, nhớ ngủ, nhớ uống nước."
"Tui nhớ."
"Nhớ cả cha Kình."
"Cha tui khỏi nhớ, cha dính tui như keo." Kình nói.
"Tao nghe," Cộc nói.
"Piên nhớ."
"Nhớ gì?"
"Nhớ cho hai đứa." Cô cười. "Kình nói được rồi."
"Piên có lạnh không?" Kình gọi. "Gió sông lạnh lắm."
"Piên có khăn."
"Có đủ ấm không?"
"Đủ." Cô kéo mép khăn. "Kình lo gì, ghe muối có bao muối ngồi tựa, ấm hơn ghe Kình."
"Ghe tui có thầy Đức."
"Thầy Đức không ấm." Piên cười ngặt nghẽo. "Thầy lạnh như sổ."
Thầy Đức không ngẩng đầu. "Tôi nghe."
"Thầy nghe thì ghi đi," Piên nói.
Thầy Đức không đáp, nhưng khóe môi ông động đậy.
Cô hát. Một câu ngắn bằng tiếng Tày, ba nốt đi xuống rồi một nốt đi lên. Giọng cô thấp, hơi khản sương sớm, bay trên mặt sông. Cô không dịch. Kình nghe từng chữ, không hiểu chữ nào, mà hiểu được như hiểu tiếng chuông.
Nó hát lại. Phô. Đúng mấy chỗ Cộc vẫn phô. Nốt thứ hai thấp quá, nốt cuối cao quá. Cộc trên vai nó giật mình, rồi nín cười.
Piên cười. Cười ra tiếng, lấy tay áo quệt mắt.
"Kình hát dở," cô nói.
"Cha tui dạy."
"Cha Kình hát dở hơn."
"Tao nghe thấy đó," Cộc làu bàu.
Ghe muối nhổ sào. Người chèo chống mạnh một cái, ghe trườn ra khỏi bậc đá, mũi quay ngược dòng. Piên đứng mạn, tay vịn bao muối, quay lại nhìn. Cô không vẫy. Cô giơ một bàn tay lên ngang ngực, lòng bàn tay mở, và giữ nguyên thế, cho tới khi ghe quặt khuất sau khúc quanh đầu bến.
Kình đứng nhìn nước chỗ ghe vừa rời. Nước khép lại.
"Cậu ổn không?" thầy Đức hỏi.
"Con không sao."
Hai ngón tay thầy gõ lên mạn ghe. Hai cái. Cộc, cộc. Thầy không nhìn nó. Thầy không ghi gì vào sổ.
Cộc trên vai Kình ghé tai, rất khẽ.
"Ông già bắt được mày rồi."
"Con biết."
"Ổng nghe được mày nói dối."
"Con biết mà cha."
"Biết mà vẫn nói."
"Con không muốn ổng lo."
"Ổng không lo." Cộc ngáp. "Ổng ghi."
Thầy Đức vẫn ngồi trên mui, mắt nhìn xa, tay đặt lại lên sổ. Ông không nói gì nữa. Ông cầm sào, chống một cái. Ghe rời bậc đá, trườn ra giữa dòng. Mắt vẽ ở mũi ghe tam bản xa xa, nơi bến sau lưng, nhìn theo ghe đi.
Ghe ra giữa dòng. Kình ngồi xuống đuôi, mái chèo gác ngang gối. Gió sông thổi lạnh vào cổ áo. Nó móc túi áo, lấy ra hai tờ giấy.
Tờ thứ nhất là tờ yết gấp tư từ bến sông Cái, giấy ngả vàng, nếp gấp đã sờn trắng. Ô vuông son ở góc dưới, bốn cạnh thẳng, giữa trống trơn. Tờ thứ hai là tờ thử Uẩn gửi qua Khuê, giấy mới, dày, mịn. Một con dấu son đỏ, hoàn hảo, từng sợi mảnh y như mọi con dấu cái máy đóng.
Nó đặt hai tờ cạnh nhau trên đầu gối. Gió thổi, giấy lật. Nó rút cây thước gãy quấn dây gai ở thắt lưng, đặt ngang đè lên hai tờ cho gió khỏi lật.
Nó nhìn hai tờ đỏ.
Một cái không có tên. Một cái không có tay.
Nó gấp hai tờ lại thành một, nhét vào bọc vải nâu giắt lưng, dưới con dấu sừng trắng mặt trống. Nó buộc bọc lại bằng hai nút chỉ đỏ, kéo chặt. Rồi nó cầm mái chèo.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.