Hai gói xôi lá chuối nằm trên nắp khoang, dây lạt buộc chéo, nút thắt kiểu bà Hợi, kéo một đầu là bung cả. Lá ngoài đã héo quăn mép.
Thầy Đức gác sào lên mui, ngồi xuống, mở gói của mình. Thầy không dùng dao. Thầy bẻ nắm xôi làm ba bằng đầu ngón tay, ba miếng gần bằng nhau. Miếng thứ ba thầy đặt lên mép mui lá, đúng chỗ Cộc vẫn ngồi mỗi lần Kình xuống khoang. Thầy không nhìn chỗ ấy khi đặt. Thầy nhìn sông, ăn miếng thứ nhất.
Kình đứng ở đuôi ghe, tay trên cán chèo. Cán nằm trong rãnh cọc, nút chỉ chàm chạm vào lòng bàn tay mỗi lần nó đẩy.
Cộc tụt khỏi vai nó, men theo mạn, leo lên mui. Khúc tay cụt kẹp miếng xôi vào ngực, tay kia bốc. Ở xóm Kim, miếng xôi cỡ đó Cộc nuốt hai lần là hết. Giờ nó nhai lâu, nhai như ông già nhai trầu, hết một hột mới bốc hột khác.
Ăn xong, Cộc leo về vai. Vai Kình không nặng thêm. Như có ai vắt lên đó một cái áo phơi.
"Cha ăn ít vậy tui khỏi phải xin thêm phần," nó nói.
"Tao để bụng ăn cá biển."
"Cha biết biển ở đâu mà để bụng."
"Tao không biết. Tao nghe mày tính đi đâu thì tao đói theo đó."
Thầy Đức gấp miếng lá chuối không làm tư, nhét vào khe mui. Kình đẩy thêm một mái.
"Thầy."
"Ừ."
"Thầy biết thầy Khiêm đi đâu mà thầy ghi phía nam?"
Thầy không quay lại. Giọng thầy đều như đọc giá gạo.
"Ghe Giám sơn đen ở mũi. Mười bảy tháng Giêng tôi khuân hàng lên ghe ấy. Hai hòm thuốc, một cái cân, hai hòm giấy, một tráp sơn của Học chính Thạc. Sổ bến ghi chỗ đến: tháp cổ cửa sông Nộ."
"Học chính Thạc cũng đi hả thầy?"
"Tráp đi thì người đi."
"Cửa sông Nộ ở đâu thầy?"
"Ở chỗ sổ bến hết chữ."
"Là sao thầy?"
"Sổ bến của Giám in sẵn tên bến tới cửa sông Cái. Cửa sông Nộ người ta phải viết tay thêm vào lề."
"Từ cửa sông Cái xuống đó xa không thầy?"
"Tôi không biết. Ghe tôi không ra biển." Thầy lau đầu ngón tay vào vạt áo. "Tôi chở cậu tới cửa sông Cái. Từ đó có ghe bầu xuống nam."
Kình chèo mấy mái không nói. Nước sông đục, đẩy mái nặng tay. Bên bờ trái, một đàn vịt bơi ngược, con đầu đàn ngoái lại nhìn cái ghe rồi thôi.
"Bữa ở bến Tre Ngâm, thầy đọc to dòng của thầy Khiêm."
"Ừ."
"Sao thầy đọc to?"
"Tôi già. Đọc nhỏ thì tôi không nghe."
Kình biết đó không phải câu trả lời. Nó không hỏi lại. Nó hỏi chuyện khác, như cách thầy vẫn làm với nó.
"Ghe bầu lấy bao nhiêu một người hả thầy?"
"Có khi một quan, có khi hơn. Cậu có bao nhiêu?"
Kình buông một tay khỏi cán chèo, móc trong bọc ra xâu tiền dây gai của cai Lược, giơ lên.
"Hai tiền."
Thầy Đức quay đầu nhìn xâu tiền. Nhìn lâu, như người ta nhìn một con cá để đoán cân.
"Hai tiền thì đi được từ lái tới mũi ghe."
Cộc cười khục khục trên vai, khúc tay cụt đập đập vào cổ áo Kình.
"Cha cười cái gì?"
"Tao cười ổng nói đúng."
"Cha đứng về phe ai vậy?"
"Phe đứa nào có tiền."
Chiều, ghe ghé một bến chợ ven sông. Cọc tre cắm thưa, ván cầu mục một tấm, người lên xuống phải bước dài. Thầy Đức buộc dây, lên bờ, Kình vác mái chèo theo sau. Thầy dừng ở một sạp gạo có ba cái bao mở miệng, cái đấu gỗ úp trên bao giữa.
"Gạo này bao nhiêu?"
"Ba tiền mười đồng một đấu," người bán nói, không ngẩng lên khỏi cái sàng.
"Bến trên ba tiền."
"Bến trên gạo cũ."
"Gạo cũ thổi nở hơn."
Người bán ngẩng lên, nhìn cái áo lính khuân của thầy, nhìn Kình, nhìn cái mái chèo.
"Thôi. Ba tiền. Lấy đi cho tôi dọn."
Thầy Đức mở túi áo, đổ tiền ra lòng bàn tay, đếm. Thầy đếm từng đồng một, ngón cái đẩy qua, môi không mấp máy. Đồng nào sứt mép thầy gạt riêng ra mép bàn tay. Ba đồng sứt nằm đó. Thầy đếm lại từ đầu, đủ, trả bằng đồng lành. Ba đồng sứt thầy bỏ lại vào túi, túi bên kia.
Kình đỡ đấu gạo đổ vào cái bao vải thầy mang theo. Gạo trắng đục, có vài hạt thóc lẫn.
Ghe nhổ sào. Thầy Đức chống, Kình chèo. Mặt trời xuống thấp, nước ngả màu chì.
"Thầy nghỉ phép mấy ngày vậy thầy?"
"Một tháng. Không lương."
"Vậy một tháng thầy ăn gì?"
"Ăn gạo này."
Kình nhìn cái bao gạo dựng ở cửa mui. Tay nó trên cán chèo gập từng ngón xuống. Ba quan một tháng. Ba tiền một đấu. Gập tới ngón thứ tư thì nó thôi, nắm cả bàn tay lại quanh cán chèo, đẩy một mái thật mạnh.
"Thầy ăn có một đấu thôi hả?"
"Tôi ăn ít."
"Thầy ăn ít hơn cha con nữa."
Thầy Đức liếc lên vai nó. Cộc ngồi thu lu, mắt nhắm, giả bộ ngủ.
"Cha cậu ăn ít đi rồi," thầy nói.
Kình không đáp. Nó chèo tiếp.
Đêm, ghe neo ở một vụng nước lặng sau doi cát, bờ có mấy bụi lau trắng. Thầy Đức treo ngọn đèn dầu lên cột mui, bấc vặn thấp. Kình ngồi bó gối ở đuôi, cán chèo đã rút khỏi cọc, gác ngang đùi.
Thầy mở sổ bìa chàm ra trên gối, lật mấy trang, dừng. Thầy cầm mép một tờ, xé dọc theo nếp gáy, chậm, không để rách chữ. Tiếng giấy xé nhỏ như tiếng cá đớp. Thầy gấp đôi tờ giấy, đưa sang. Không nói gì.
Kình nhận, mở ra dưới đèn.
Một bảng giá gạo. Mỗi dòng một bến, chữ đều tăm tắp, dòng nào cũng tên bến trước, giá sau. Bến Tre Ngâm ba tiền. Bến chợ chiều nay ba tiền, bên cạnh ghi nhỏ "hỏi ba tiền mười". Xuống nữa, giá cứ hạ dần từng chục đồng một. Dòng cuối cùng: "cửa sông Cái: hai tiền năm mươi đồng một đấu."
Dưới dòng ấy, giấy để trống tới mép.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 2 →