Giờ Tuất, bến Tre Ngâm tối đặc. Ông lão thần bến ngồi ở bậc đá cuối, lưng thẳng, hai tay đặt trên gối, im như một cây cột. Mặt nước đen, không gợn. Phía trên đường đê, một ngọn đèn lồng đi xuống chậm, từng bậc, ánh vàng nhỏ đung đưa theo bước chân người cầm.
Kình ngồi sẵn ở bậc giữa, mái chèo gác ngang gối, Cộc trên vai.
Piên đã nói từ chiều. "Piên không ra," cô bảo, tay xoắn vạt áo. "Kình ra."
"Sao vậy?"
"Chuyện của Khuê với Kình. Piên ngồi đó thì thừa."
Giờ cô ở lại chái bếp nhà bà Hợi, đèn tắt.
Ngọn đèn lồng tới chân bậc. Khuê hiện ra trong ánh vàng, áo xanh rêu, tóc búi gọn, tráp gỗ ôm trước ngực, cổ tay trái còn sợi chỉ đỏ. Cô gầy hơn lần trước nó thấy. Cô đặt đèn xuống bậc đá, cạnh chân, ngồi xuống bậc trên Kình, đặt tráp lên đùi, hai bàn tay úp lên nắp tráp như giữ một con vật nhỏ.
Cô không chào dài.
"Chữ trên bài vị tổ xóm huynh là chữ muội."
"Tui biết," Kình nói. "Cái chấm nghiêng."
"Muội chấm thẳng không được."
"Tui thấy nó trên mấy khối gỗ con Mẹt chạm từ tháng Sáu."
Khuê nhìn nó. Ánh đèn nghiêng, hắt lên một bên mặt cô. "Từ tháng Sáu huynh đã biết?"
"Ừ."
"Huynh không viết cho muội."
"Viết thì gửi về đâu."
Khuê không đáp. Cô không xin lỗi. Nó không trách. Mặt nước dưới chân họ lặng, chỉ có tiếng một con cá quẫy xa.
Cô mở tráp bằng chiếc chìa đồng treo trên sợi chỉ đỏ cổ tay. Cô lấy ra một góc giấy cháy sém, ngả vàng, mép đen như than, đặt dưới đèn. Cạnh nó là một tờ thử của cái máy, giấy trắng, dấu son đỏ gỉ. Hai con dấu, một cháy, một mới, đặt cạnh nhau.
"Hai dấu này," cô nói, "muội đo bằng kính soi chữ của Phòng, từng sợi mảnh. Trùng nhau."
"Trùng sao?"
"Trùng từng nét. Dấu trên tờ sắc giả của ông Gò, và dấu của khí cụ đóng, là cùng một khuôn." Cô lấy thêm một tờ nữa, mỏng, kẻ ô. "Tờ chép sổ mượn kho. Có dấu nhận mượn của Phòng Tế Tửu. Muội không nói người mượn dùng gì. Muội chỉ nói sổ cai Kỷ với bản dập bài vị đình Gò Mít ra khỏi kho tháng Sáu năm mười sáu, và mùa nước năm ấy tờ sắc giả chép đúng tôn hiệu trong hai thứ đó nằm trong hốc mít."
Cô kể ngắn, câu dài Hán Việt, mỗi câu như từng hạt ngọc xâu. Cô không thêm lời bình. Kình nghe, im, tay nắm cán mái chèo.
"Ổng nói giấy sẽ tới tận nhà," nó nói, khi cô ngừng. "Như nhau cho mọi người."
"Tới cả nhà ông Gò, huynh."
Nó im lặng rất lâu.
Cộc trên vai nó không động đậy. Ngoài kia, ông lão thần bến vẫn ngồi thẳng lưng, mặt nhìn sông.
"Muội định làm gì?" Kình hỏi.
"Muội ở trong thì còn có người giữ cái chìa."
"Ở trong thì muội còn phải chép."
"Muội biết."
"Chép cái ổng bảo chép."
"Muội biết, huynh."
"Muội chép chữ cho tổ xóm tui. Chữ ngay. Tổ không hắng giọng."
Khuê nhắm mắt một thoáng. Khi mở ra, mắt cô vẫn khô, trong, nhìn thẳng. "Muội biết. Huynh nói đúng."
"Tui không nói để trách."
"Muội không nghe là trách."
"Vậy nghe là gì?"
"Nghe là sự thật." Cô ngừng. "Muội cần nghe sự thật từ người khác. Trong Phòng, ai cũng nói tốt."
Kình nhìn mặt nước. Nó nhớ tờ yết, ô vuông son trống. Nó nhớ chữ Kình bộ ngư.
"Huynh nhớ đêm lẩu then không?" Khuê hỏi, nhẹ.
"Nhớ là có."
"Đêm Piên đội dải vải đỏ. Huynh đứng sau muội, tay cầm cái gùi của Piên."
Kình nhìn mặt nước. Nó thấy tóc mình trong nước, đen, rối, mờ. Nó thấy mặt Khuê. Nó thấy nước. Chỉ có hai gương mặt trong đó, không thêm gì.
"Muội nhớ giùm tui," nó nói.
Khuê nghe ra, và cô không hỏi. Cô gật một cái, thật chậm, như người ký tên.
"Muội nhớ."
"Piên cũng nhớ."
"Piên và muội. Hai người."
"Cha tui cũng nhớ," Kình nói.
Cộc hít vào một hơi nhỏ. Khuê liếc lên vai nó, ánh mắt thoáng qua, dịu.
"Muội gửi lời thăm," cô nói.
"Cha nghe," Kình nói. "Cha bảo cha khỏe."
"Cha huynh không khỏe," Khuê nói nhẹ. "Muội nghe tiếng ông ấy nhỏ hơn trước."
Kình ngẩng nhìn cô. Cô không giải thích. Cô cúi xuống tráp.
Cô thò tay vào tráp lần nữa, rút một tờ thử khác, gấp tư, đưa nó. "Uẩn gửi. Hắn không nói gì."
Nó nhận. Tờ giấy dày, mịn, dấu son phía trong. Nó bỏ vào túi áo, cạnh tờ yết gấp cũ.
"Hắn nhận ra tui ngày mùng một Tết," nó nói. "Hắn vấp một chữ."
"Hắn kể muội." Khuê mím môi. "Hắn nói hắn đọc lại từ đầu dòng."
"Hắn tốt."
"Hắn sợ. Sợ mà tốt." Cô đóng nắp tráp, cài chốt. "Muội cũng thế."
Kình không đáp.
Khuê đứng dậy. Cô cầm đèn lồng lên, ánh vàng chao qua mặt hai người. Cô bước hai bậc, rồi dừng lại, quay đầu. Cô nhìn nó một lúc.
"Huynh định đi đâu?"
"Thầy Đức biết."
"Thầy Đức biết, muội nhờ ông ấy." Cô ngừng. "Muội không biết ghe sẽ ra sao. Muội chỉ biết ông ấy sẽ không hỏi."
"Cám ơn muội."
"Đừng cám ơn." Cô khẽ cười, rất ngắn. "Huynh giữ gìn."
"Muội cũng vậy."
Cô quay đi.
Tới bậc đá cuối, cô dừng. Ông lão thần bến ngồi đó, lưng thẳng. Cô đặt đèn xuống, chắp hai tay, cúi chào đúng phép, thấp, chậm.
Ông lão đứng dậy.
Ông đáp lễ, đúng thể thức, không thừa một cử chỉ, không thiếu một cử chỉ. Rồi ông ngồi xuống, lưng thẳng như trước.
Khuê cầm đèn lên. Cô đi lên đê, từng bậc. Ánh đèn lồng nhỏ dần giữa bóng tối, nhỏ dần, nhỏ dần, rồi chỉ còn một chấm vàng trên đê.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 103 →