Bố anh dạy nghe đồng bằng cách bịt mắt anh lại.
Hồi đó anh chừng tám chín tuổi. Ông Đích lấy cái khăn mặt buộc ngang mắt con, dắt ra chỗ giá để hàng, rồi gõ. Gõ vào cái lư, cái đỉnh, cái chân đèn, cái mâm bồng, mỗi thứ một cái, không theo thứ tự nào.
"Cái vừa rồi là cái gì?"
"Cái đỉnh."
"Sai. Cái mâm. Nghe lại."
Ông không giải thích gì thêm. Ông không nói vì sao cái mâm kêu khác cái đỉnh, không nói đồng dày thì tiếng thế nào. Ông chỉ gõ, hỏi, rồi nói sai hay đúng. Bân nhớ mình đã bực tới phát khóc trong mấy tháng đầu, và nhớ cái ngày mình đoán đúng tám cái liền, bỏ khăn ra thì thấy bố đang ngồi hút thuốc ở bậc cửa, không nhìn mình, chỉ nói một câu:
"Ừ. Từ mai gõ cái khác."
Ông mất tháng Mười một năm hai nghìn mười chín, ở bệnh viện tỉnh, sau bốn tháng nằm. Bân hai mươi hai tuổi, đang làm thuê cho một xưởng dưới thị trấn. Anh về nhận cái xưởng với ba tạ đồng vụn, hai cái nồi nấu, một sổ ghi nợ khách và một quyển vở học sinh trong đó bố anh ghi công thức pha của từng loại hàng bằng chữ viết hoa nguệch ngoạc, mỗi loại một dòng.
Trong quyển vở ấy không có dòng nào về quả chuông. Bân đã lật đi lật lại nhiều lần trong năm đầu, tìm một dòng ghi năm hai nghìn lẻ bảy, tìm một công thức bị gạch đi, tìm bất cứ cái gì. Không có. Bố anh ghi cả cách pha đồng cho cái then cửa, mà không ghi cái ông làm hỏng.
Đến trưa thì Bân đã đếm xong lần thứ nhất.
Anh đứng dậy, đi rửa mặt, uống nước, quay lại đếm lần thứ hai. Đếm bằng cách đặt ngón tay lên từng vành của bản dập rồi lần ra ngoài, mỗi lần chuyển vành thì dịch một hòn sỏi từ bên trái sang bên phải. Cách đếm của người không tin vào trí nhớ của mình.
Mười lăm hòn sỏi.
Rồi anh đếm ngôi sao ở giữa. Mười hai cánh.
Anh kéo cái hòm gỗ lại gần, lấy mặt trống bản sao ra khỏi lớp giẻ, đặt cạnh tờ giấy, và đếm lại trên đồng, cũng bằng ngón tay, cũng bằng sỏi.
Mười sáu vành. Mười bốn cánh.
Anh ngồi xuống nền gạch, hai vật đặt cạnh nhau trước mặt, và nhìn chúng.
Hoa văn thì giống. Không phải giống đại khái mà giống tới mức nếu úp cái này lên cái kia thì phần lớn các hình sẽ chồng khít. Cùng đàn chim bay ngược chiều kim đồng hồ. Cùng những người đội mũ lông chim. Cùng cái nhà mái cong với mấy người ngồi trong. Cùng hai con vật bốn chân đi thành hàng.
Chỉ là một cái có mười sáu vành, mười bốn cánh, còn cái kia có mười lăm vành, mười hai cánh.
Anh đếm lần thứ ba, lần này ngược từ ngoài vào trong để nếu có sai thì sai theo kiểu khác. Kết quả không đổi.
Vành thiếu nằm ở gần giữa. Trên mặt trống, giữa vành có đàn chim và vành có hai con vật bốn chân, còn xen một vành nữa toàn những vòng tròn nhỏ, mỗi vòng có một chấm ở tâm và một nét thẳng tiếp vào cạnh. Trên bản dập, hai vành kia nằm sát nhau. Không có khoảng trống, không có chỗ giấy rách, không có vết mực nhoè. Người dập tờ giấy này dập một cái trống vốn không có cái vành ấy.
Nghĩa là có một cái trống khác. Nhỏ hơn, ít cánh hơn, thiếu một vành.
Trong nghề, chuyện hai cái trống khác nhau là chuyện hiển nhiên. Ở bảo tàng nào cũng có mấy chục cái, cái to cái nhỏ, cái nhiều vành cái ít vành. Bân biết điều đó, và nếu chỉ có thế thì anh đã gấp tờ giấy lại từ trưa.
Cái làm anh ngồi tới ba giờ chiều là hai chuyện khác.
Thứ nhất, người dập tờ giấy này dập rất cẩn thận. Nét sắc, đều tay, không bỏ sót một chấm nào. Người ta chỉ dập cẩn thận như thế khi đang đối chiếu một cái gì đó với một cái gì đó khác.
Thứ hai, người ấy viết bốn dòng ở góc, và trong bốn dòng ấy không có dòng nào nói về hoa văn. Người ấy ghi một chỗ, ghi một giờ, và ghi rằng mình thiếu người.
Ba giờ chiều, anh lấy điện thoại chụp bốn kiểu: toàn bộ bản dập, chỗ hai vành nằm sát nhau, ngôi sao mười hai cánh, và góc giấy có bốn dòng chữ. Anh gửi vào số của Khuyến kèm một tin nhắn:
Bản dập này không phải của cái trống trong hòm. Ít hơn hai cánh sao, thiếu một vành. Góc giấy có ghi chú viết tay năm 1997, có nhắc một địa điểm ở chỗ tôi. Anh xem lại giúp hồ sơ xem của ai.
Tin nhắn báo đã gửi. Không báo đã đọc.
Anh cất mặt trống vào hòm, gấp tờ giấy theo đúng nếp cũ để không làm gãy thêm chỗ nào, kẹp vào giữa hai tấm bìa cạc tông rồi để lên nóc tủ. Chiều anh trộn đất khuôn cho mẻ mới, tối nấu cơm ăn một mình, mở ti vi rồi tắt ti vi.
Trước khi đi ngủ, anh ra khoá cửa xưởng, và trong lúc quay ra thì đi qua dưới quả chuông treo trên xà như mọi tối.
Hôm sau Khuyến không trả lời. Hôm sau nữa cũng không.
Sáng ngày thứ ba, lúc anh đang cạo lớp đất bám ở miệng nồi nấu, có tiếng xe máy dừng ngoài cổng, rồi tiếng người hỏi vọng vào, giọng phụ nữ, giọng miền ngoài.
"Cho hỏi đây có phải xưởng anh Lê Bân không ạ?"
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 4 →