Người của bảo tàng xuống lúc chín giờ sáng hôm sau, đi xe bán tải, chở theo một cái hòm gỗ dán nẹp sắt to bằng cái bàn con.
Anh ta tên Khuyến, chừng ba mươi lăm, áo sơ mi bỏ trong quần, tay cầm tập biên bản kẹp bìa cứng. Anh ta bảo tài xế khiêng hòm vào xưởng rồi đứng nhìn quanh một lượt, nhìn cái lò, nhìn đống lư hỏng xếp ở góc, nhìn quả chuông treo trên xà, với vẻ của người đang ước lượng xem chỗ này có đáng tin không.
"Anh mở ra xem đi," Khuyến nói.
Bân cạy nẹp. Trong hòm, lót giữa hai lớp xốp và một lớp giẻ, là một mặt trống đồng đường kính chừng bảy tám phân, đúc liền với tang, phần thân dưới bị cắt cụt cho đỡ nặng. Đồng đã lên nước xanh xám, không phải màu gỉ tự nhiên mà là màu người ta nhuộm cho nó già đi.
"Bản sao đúc năm hai nghìn không, làm quà tặng đối ngoại," Khuyến nói. "Bên tôi nhận lại từ một cơ quan giải thể. Giờ muốn phục chế phần mặt cho đúng nguyên bản để trưng bày."
Bân không trả lời. Anh đưa tay phải lên, cong ngón giữa, và gõ móng tay vào vành ngoài của mặt trống.
Một tiếng ngắn, cụt. Anh gõ tiếp một cái ở chỗ đối diện. Cũng cụt như thế.
"Sao anh?"
"Đồng này pha nhiều thiếc." Bân gõ thêm hai cái nữa, chậm hơn. "Nhiều hơn mức để đúc trống."
"Nhiều là bao nhiêu?"
"Tôi không biết chính xác. Phải cắt ra đem đi phân tích mới biết chính xác. Tôi chỉ nghe được là nhiều." Anh ngừng, rồi nói tiếp, giọng của người đang cố diễn đạt một điều vốn không cần diễn đạt. "Thiếc nhiều thì đồng cứng, cứng thì tiếng ngắn, đánh không ngân. Nhà tôi pha mười hai phần thiếc, cái này phải mười lăm mười sáu. Đúc lư hương thì được. Đúc cái để đánh thì không ai pha thế."
Khuyến ghi mấy chữ vào biên bản, vẻ hài lòng của người vừa xác nhận được một điều đã nghi.
"Nghĩa là họ làm ẩu."
"Không." Bân đặt tay lên mặt trống, xoè bàn tay ra, đi một vòng theo vành. "Ẩu thì chỗ dày chỗ mỏng, chỗ cứng chỗ mềm. Cái này đều. Đều từ vành trong ra vành ngoài, đều cả bên tang."
"Thì sao?"
"Thì có nghĩa là người đúc nó biết mình đang pha nhiều thiếc, và cố tình pha nhiều." Anh gõ thêm một cái, nghe, rồi rút tay về. "Người ta làm ẩu thì hỏng lung tung. Người ta cố ý thì hỏng đều một kiểu."
Khuyến nhìn anh một lúc, cái nhìn của người vừa nghe một câu không nằm trong biên bản và không biết xếp nó vào đâu.
"Cái đó thì tôi không rành," anh ta nói. "Việc của bên tôi là mặt trống bị sứt hai chỗ ở vành ngoài với mòn mất một khoảng hoa văn ở giữa. Anh phục chế lại được là được."
Họ làm biên bản. Khuyến đọc từng dòng, Bân ký, tài xế đứng hút thuốc ngoài sân. Trong biên bản có hai mục: một mặt trống bản sao, và một tờ giấy dó dập hoa văn, ghi rõ là tài liệu mượn, người nhận chịu trách nhiệm bảo quản, trả lại khi xong việc.
Bân đọc tới mục thứ hai thì ngẩng lên.
"Giấy gì ạ?"
Khuyến nhấc lớp giẻ cuối cùng dưới đáy hòm lên.
"Cái này. Hồ sơ bàn giao không ghi của ai."
Đó là một tờ giấy khổ lớn, gấp tư, giấy dó đã ố vàng và giòn ở các nếp gấp. Bân mở ra. Một bản dập hoa văn mặt trống, dập bằng mực đen, kiểu người ta phủ giấy lên hiện vật rồi vỗ than cho hình nổi lên. Nét sắc, làm cẩn thận, không phải bản in.
Ở góc dưới bên phải có chữ viết tay.
Không phải một dòng. Bốn dòng, bút bi xanh đã phai gần hết, viết chen vào khoảng giấy trắng ngoài rìa bản dập. Bân nghiêng tờ giấy ra chỗ sáng và đọc được, không hết, nhưng đủ.
Bãi ..... sông Mã, đoạn dưới bến đò cũ.
Lúc nước xuống, nửa tiếng.
Bốn tay. Tôi chỉ có ba.
Dòng thứ tư là một chữ ký, chỉ mấy nét móc vào nhau, không đọc ra được. Bên cạnh chữ ký, rõ hơn cả bốn dòng kia, là ngày tháng.
3.1997
Bân đọc lại lần thứ hai. Rồi lần thứ ba.
"Anh Khuyến."
"Gì anh?"
"Bản dập này của cái trống nào?"
"Chịu. Trong hồ sơ không ghi." Khuyến gấp biên bản lại, kẹp vào nách. "Anh cứ giữ mà đối chiếu, xong việc thì trả lại luôn thể."
Xe đi rồi, xưởng lại chỉ còn tiếng gà bên nhà hàng xóm.
Cách làng bốn cây số, ở đoạn sông Mã chỗ lòng sông rộng ra và cạn, có một cái bến đò. Bến bỏ từ năm hai nghìn lẻ chín, khi bắc xong cầu. Hồi bé Bân theo bố qua đò ấy hai lần một tháng để sang bên kia lấy đồng vụn. Cả huyện này không có cái bến đò cũ nào khác trên sông Mã trong bán kính mà một người viết tay vắn tắt như thế lại không cần ghi rõ hơn.
Anh quét một khoảng nền gạch cho sạch, trải tờ giấy ra, lấy bốn hòn gạch chặn bốn góc. Ánh nắng chín giờ rưỡi hắt qua cửa xưởng thành một vệt chéo, cắt ngang tờ giấy làm hai nửa sáng tối.
Anh ngồi xổm bên cạnh, hai tay chống lên đầu gối.
Anh không đọc được hoa văn. Anh không biết những hình người đội mũ lông chim kia đang làm gì, không biết đàn chim bay vòng quanh nghĩa là gì, và cũng chưa bao giờ thấy cần biết. Cái anh biết là một thứ khác, thứ mà bất kỳ ai từng ngồi khắc hoa văn lên khuôn đất suốt mười mấy tiếng đều biết: hoa văn không tự nhiên mà có. Có người ngồi khắc từng nét. Người ấy có nhịp tay, có chỗ nghỉ, có chỗ vội, có chỗ đếm.
Và có một người khác, hai mươi chín năm trước, đã ngồi trước tờ giấy này và viết rằng mình chỉ có ba tay.
Bân đặt ngón trỏ lên ngôi sao giữa bản dập.
Rồi anh bắt đầu đếm.
Chú thích
[1] Nghề đúc đồng làng Trà Đông (xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hoá, Thanh Hoá) được đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia năm 2018. Kỹ thuật pha hợp kim và cách chỉnh âm của từng nhà nghề hiện không có tài liệu công bố; đây là bí quyết chỉ truyền trong họ và trong làng.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 3 →