Bốn giờ sáng, lò đã đỏ được hai tiếng, và Bân biết mẻ này hỏng trước khi mở khuôn.
Anh biết bằng lưng áo. Đó là cách bố anh dạy đo nhiệt, từ hồi chưa ai trong làng có nổi cái nhiệt kế đo được quá năm trăm độ. Đứng cách miệng lò một sải tay, đợi. Áo ướt tới bả vai là lửa còn non. Ướt tới giữa lưng là được. Ướt tới thắt lưng là chín trăm độ, rót được. Sáng nay áo anh ướt tới thắt lưng từ lúc ba giờ rưỡi, đúng như phải thế, và đó chính là chỗ sai. Lửa đúng thì không có gì để đổ tội. Còn lại chỉ có đất.
Anh gạt tro, cạy khuôn thứ nhất ra khỏi hố cát. Khuôn còn nóng, phải kẹp bằng hai thanh sắt. Lớp đất ngoài bong ra từng mảng như vảy cá, để lộ cái lư hương bên trong, và ngay ở vành miệng, chỗ đáng lẽ phải trơn như mặt nước, có một dải lỗ nhỏ li ti chạy vòng quanh. Rỗ khí. Khí bị nhốt lại trong lòng đồng lúc rót, không thoát kịp, đông cứng thành hàng trăm cái lỗ bằng đầu kim.
Bân đặt cái lư xuống nền gạch, ngồi xổm, nhìn nó một lúc lâu hơn mức cần thiết.
Ba hôm trước trời mưa. Mưa tháng Sáu ở Thiệu Trung không to nhưng dai, mưa suốt từ chiều tới nửa đêm, và đất khuôn phơi ngoài sân chỉ kịp se mặt. Anh sờ vào thì thấy khô, bẻ ra thì trong ruột vẫn còn hơi ẩm nằm im ở đó, không nhìn thấy, không ngửi thấy, chỉ chờ gặp đồng chín trăm độ là bung ra thành hơi nước. Anh đã biết. Anh vẫn rót, vì khách hẹn lấy hàng ngày mười tám, và vì mỗi lần lỡ hẹn với một ông chủ đền là mất luôn cả những đơn sau.
Anh cạy nốt mười cái khuôn còn lại. Chín cái rỗ, một cái nứt chân, một cái được. Một trên mười một.
Đồng thì không mất. Đồng nấu lại được, đó là cái tốt duy nhất của nghề này, đồng không bao giờ chết hẳn, nó chỉ đổi hình. Nhưng than mất, công mất, đất khuôn mất, và ba ngày nữa mới có mẻ mới. Anh tính nhẩm trong lúc xếp đống lư hỏng vào góc: bốn triệu hai. Bằng non nửa tháng ăn.
Trời sáng dần. Từ chỗ anh ngồi nhìn ra, sân gạch còn ướt sương, cái sân bố anh lát năm chín tám bằng gạch thải của lò gạch bên Thiệu Đô, viên nào cũng vênh một chút, đi quen thì không vấp. Bên kia sân là nhà ba gian. Trong nhà có bàn thờ, trên bàn thờ có hai cái ảnh, và anh đã quen tới mức không còn nhìn chúng nữa, cũng như người ta không nhìn cái cột nhà mình.
Điện thoại rung lúc sáu giờ mười. Số quen.
"Anh Bân ơi, hôm nay tới kỳ rồi anh."
"Ừ. Chiều tôi chuyển."
"Vâng, em nhắc thôi chứ anh có bao giờ chậm đâu."
Anh cúp máy. Cái máy phát điện mua từ tháng Chín năm ngoái, hai mươi tám triệu, trả góp ba mươi sáu tháng. Còn mười bốn tháng nữa. Anh mua nó vì cả năm ngoái điện làng cắt liên tục vào đúng giờ nấu, mà đồng đang chảy thì không có chuyện dừng, đồng nguội trong nồi là hỏng cả nồi lẫn cả buổi. Mua xong thì điện lại ổn. Cái máy nằm trong góc xưởng, phủ bạt, mỗi tháng ngốn của anh bảy trăm bảy mươi tám nghìn, và tính từ lúc mua tới giờ anh mới nổ nó đúng bốn lần.
Ngay cạnh cái máy, treo trên xà ngang bằng một đoạn dây thừng đã bạc, là quả chuông.
Nó nhỏ, cao chừng bốn gang tay, thân thẳng, vành hơi loe. Nhìn thì không ai bảo nó hỏng. Bố anh đúc nó năm hai nghìn lẻ bảy, đúc cho chùa Vĩnh Thái, và khi treo lên thử thì nó kêu một tiếng đục như đấm vào bao cát rồi tắt luôn, không ngân được nửa nhịp. Sai tỉ lệ. Nhà anh pha mười hai phần thiếc, quả ấy bố anh pha bao nhiêu thì ông không bao giờ nói, chỉ bảo "tao thử một cái, thử hỏng rồi". Chùa trả lại. Ông không nấu lại. Ông treo nó lên xà, ngay chỗ ai bước vào xưởng cũng phải đi qua dưới nó.
Mười chín năm nay chưa ai gõ quả chuông ấy lần nào. Trong làng có người bảo cứ nấu quách đi cho được mấy cân đồng, Bân nghe rồi ừ, rồi để đấy.
Anh rửa tay bằng nước giếng, thay áo, ăn hai bát cơm nguội với cá kho mặn. Vừa buông đũa thì điện thoại rung lần thứ hai.
Số lạ, đầu số cố định.
"Cho hỏi có phải xưởng đồng anh Lê Bân không ạ?"
"Vâng."
"Tôi ở bảo tàng tỉnh. Bên tôi có cái này muốn nhờ anh xem giúp. Một bản sao trống đồng, đúc lâu rồi, giờ hỏng phần mặt, cần phục chế lại cho đúng nguyên bản."
Bân đứng dậy, đi ra sân. Trong xưởng sóng yếu.
"Bản sao hay bản thật ạ?"
"Bản sao. Bản thật thì làm gì đến lượt anh với tôi." Người kia cười, cái cười của người quen nói câu ấy nhiều lần. "Anh nhận không? Tôi hỏi mấy nơi rồi, ai cũng bảo phục chế mặt trống khó, không nhận."
"Đưa tôi xem đã. Chưa nhìn thì tôi chưa nói được."
"Được, mai tôi cho người mang xuống. Về giá thì anh yên tâm, bên tôi trả theo mức phục chế hiện vật, cao hơn hàng thường."
"Cao hơn bao nhiêu ạ?"
Người kia nói một con số.
Bân đứng giữa sân, một tay cầm điện thoại, một tay tự dưng đưa lên gõ móng tay vào cái cột sắt căng dây phơi, một cái, hai cái, thói quen từ nhỏ, gõ vào bất cứ thứ gì bằng kim loại đi ngang qua để nghe nó nói gì. Cái cột kêu bộp, đặc, chán ngắt. Sắt thì bao giờ cũng chán.
Con số ấy gấp ba giá thường.
Anh nói được, mai anh cho người mang xuống, rồi cúp máy. Anh quay vào xưởng, dọn nốt đống lư hỏng, xếp lại thành hàng ngay ngắn dù chúng sắp bị nấu chảy hết trong ba hôm nữa.
Anh không hỏi vì sao họ trả gấp ba.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 2 →