Mùi hành phi từ bếp của bà Tư theo gió lùa qua khe cửa cuốn, quện với mùi dầu ăn đã dùng lại nhiều lần của mấy chiếc xe đẩy bánh mì kế bên. Cái mùi ấy, thằng Huy ngửi phát là biết ngay sáu giờ sáng, cái giờ mà cả con hẻm 47 này còn ngái ngủ, chỉ có bà Tư là thức, đứng bên cái bếp than tổ ong đỏ lửa, tay đảo đều chảo hành.
Huy dựng xe máy trước cửa tiệm, tháo nón bảo hiểm, gõ gõ ngón tay lên cánh cửa sắt đã sờn màu sơn dầu. Bà Tư thò đầu ra, cái khăn rằn quấn ngang trán ướt mồ hôi.
"Vào đi, cơm nước chưa?"
"Dạ chưa. Mà con ghé qua đây cái đã, có chuyện muốn nói với bà."
Bà Tư tắt bếp, lấy cái khăn lau tay. Trong tiệm bốn cái bàn nhựa đỏ, mỗi bàn kê bốn cái ghế nhựa thấp, tất cả đều trống trơn. Cái tủ kính đựng mấy hũ tương ớt, tương đen, lọ tiêu, hủ đường cát, đứng kê sát tường bên trái. Phía sau quầy, trên bức vách gỗ ép đã bong tróc, treo tấm bảng hiệu "Phở Bò & Cơm Tấm Cô Tư" viết bằng sơn dầu đỏ, chữ nét đã nhòe vì dầu mỡ bám lâu năm. Cái bảng đó treo đâu cũng phải hai mươi năm rồi.
"Bà ngồi đi." Huy kéo ghế, rót cho bà Tư ly trà nguội đã pha sẵn trong bình thủy tinh. "Con mới đi coi cái chỗ bên quận Bảy về. Cái cloud kitchen đó."
Bà Tư nhấp ngụm trà, mắt nhìn thằng cháu đích tôn đang ngồi đối diện. Cái thằng này hồi nhỏ hay chạy ra sau bếp, ngồi coi bà nêm nếm, hỏi đủ thứ. Nó học hết cấp ba rồi đi làm mấy cái quán cà phê, mấy cái nhà hàng lớn bên quận Một. Bẵng đi mấy năm, giờ thấy nó mặc áo sơ mi trắng, đeo ba lô laptop, nói chuyện toàn mấy từ bà nghe không hiểu.
"Cloud kitchen là cái gì?"
"Nói đơn giản là cái bếp chỉ nấu để giao hàng, bà à. Không có chỗ cho khách ngồi. Khách đặt qua app, shipper tới lấy, giao đi. Mình chỉ cần cái bếp, mấy cái bàn inox, tủ lạnh, hệ thống hút khói. Không cần mặt bằng đẹp, không cần chỗ đậu xe, không cần nhân viên phục vụ."
Bà Tư đặt ly trà xuống bàn. Cái ly thủy tinh kêu cạch một tiếng trên mặt nhựa.
"Vậy khách ngồi đâu ăn?"
"Không có khách ngồi, bà. Khách ở nhà, khách ở công ty, khách ở đâu cũng được. Họ đặt app, mình nấu, shipper giao. Vậy thôi."
Bà Tư im lặng một lúc. Mùi hành phi từ bếp còn vương lại trong không khí, trộn với mùi nước mắm cá cơm từ mấy cái thùng đựng đồ nghề của bà. Bà đứng dậy, đi ra sau bếp, mở tủ lạnh. Tiếng cửa tủ hít vào một cái rõ to, rồi tiếng bà lục đồ trong đó.
"Con ăn gì chưa? Bà có ít thịt kho hột vịt còn dư hôm qua."
"Dạ thôi, con ăn sáng rồi. Bà nghe con nói hết cái đã."
Bà Tư đóng cửa tủ lạnh, bước ra, ngồi xuống. Cái ghế nhựa kêu rít dưới sức nặng của bà. Bà lấy cái quạt nan tre dưới chân, quạt phành phạch.
"Con tính sao?"
"Con tính mở một cái. Bên quận Bảy, khu đó dân văn phòng đông, mấy tòa nhà mới xây, nhưng không có quán ăn nào ra hồn. Mình nấu mấy món Việt đơn giản thôi, cơm tấm, phở, bún bò. Đặt app là có đơn ngay. Không cần đầu tư nhiều, không cần thuê nhân viên. Một hai người nấu là đủ."
Bà Tư ngừng quạt. Cái quạt nan tre đập nhẹ vào đùi bà một cái.
"Một hai người nấu? Con tính nấu hả?"
"Dạ. Con nghĩ là con nấu được. Hồi nhỏ con coi bà nấu hoài, con nhớ công thức. Với lại con có học qua mấy lớp nấu ăn ngắn hạn bên quận Một rồi."
Bà Tư nhìn thằng cháu. Cái nhìn như thể bà vừa nghe một câu chuyện tiếu lâm.
"Nấu ăn không phải là nhớ công thức, con. Nấu ăn là biết lửa lớn lửa nhỏ, biết nước mắm nào mặn nước mắm nào lạt, biết hôm nay cá tươi hay cá ươn mà nêm nếm cho khác. Cái đó ai dạy con?"
"Thì con học dần, bà. Mấy cái app nó có hướng dẫn, có video, có công thức chuẩn. Mình làm theo là được."
Bà Tư đứng dậy. Bà đi ra cái bàn thờ nhỏ đặt trên nóc tủ kính, thắp một nén nhang, cắm vào cái lư đồng đã đen thui vì khói. Khói nhang bay lên, quện với mùi hành phi còn sót lại. Bà đứng quay lưng lại, nói với ra phía sau.
"Ông nội con hồi xưa mở cái tiệm này năm 1975. Bán từ sáng sớm tới tối mịt. Khách quen, khách lạ, khách nào cũng có chỗ ngồi. Có người ngồi ăn xong, nói chuyện với bà cả tiếng đồng hồ. Có người tới ăn một lần rồi mai dắt con tới. Cái tiệm này không phải chỗ bán đồ ăn, con. Nó là chỗ người ta ghé vào."
"Dạ con biết. Nhưng thời giờ khác rồi, bà. Người ta bận lắm. Người ta không có thời gian ngồi ăn. Người ta đặt app, ăn ở bàn làm việc, vừa ăn vừa coi máy tính. Mình không theo kịp thì mình chết."
Bà Tư quay lại. Bà cầm cái bảng hiệu nhỏ bằng gỗ, cái bảng mà hồi nãy Huy thấy treo trên vách sau quầy. Tấm bảng cũ kỹ, chữ "Phở Bò & Cơm Tấm Cô Tư" viết bằng sơn dầu đỏ, mấy chỗ sơn đã bong ra thành từng mảng nhỏ. Bà đặt nó xuống bàn, trước mặt Huy.
"Cái bảng này ông nội con viết. Ông viết bằng tay, từng nét một. Ông nói cái bảng là mặt tiệm, khách nhìn vào là biết mình bán gì, mình là ai. Giờ con nấu qua app, cái bảng này treo ở đâu? Khách có thấy không? Hay khách chỉ thấy cái hình chụp trên điện thoại?"
Huy im lặng. Ngoài hẻm, tiếng xe rác đẩy qua, tiếng leng keng của mấy cái nắp thùng nhựa. Một con mèo hoang nhảy lên mái tôn của tiệm bên cạnh, tiếng chân nó chạy xào xạc.
"Bà không cản con." Bà Tư ngồi xuống, tay vuốt mặt bàn nhựa. "Con lớn rồi, con tính gì thì làm. Nhưng bà nói cho con nghe một chuyện. Bà nấu ở đây bốn mươi năm. Bà biết khách nào thích nước dùng trong, khách nào thích nước dùng đục. Bà biết hôm nào trời mưa thì khách ăn phở, hôm nào trời nắng thì khách ăn cơm tấm. Bà biết khách nào ăn ít hành, khách nào ăn nhiều tiêu. Mấy cái đó, app nó có biết không?"
"Dạ app nó có phần ghi chú, khách ghi được."
"Khách ghi được. Nhưng khách có ghi hết không? Hay khách ghi 'ít hành' mà lòng khách muốn 'đừng bỏ hành'? Khách ghi 'nhiều tiêu' mà thật ra khách muốn 'tiêu rang thơm'? Con biết phân biệt không?"
Huy nhìn bà. Cái khăn rằn trên trán bà đã khô, để lộ mấy sợi tóc bạc phơ hai bên thái dương. Bà già rồi. Cái tiệm này cũng già rồi. Mấy cái bàn nhựa đỏ đã nứt, mấy cái ghế đã lỏng ốc, cái quạt trần kêu cót két mỗi lần khách mở cửa. Huy biết bà không cản nó. Nhưng cái cách bà nói, cái cách bà ngồi, cái cách bà vuốt mặt bàn như vuốt lưng một con mèo già, khiến Huy thấy trong ngực nằng nặng.
"Con không bỏ cái tiệm này đâu." Huy nói. "Con chỉ mở thêm một chỗ. Nếu được thì con thuê người nấu, còn bà vẫn bán ở đây."
"Bà không cần người nấu. Bà cần khách ngồi." Bà Tư đứng dậy, đi ra sau bếp. Tiếng bà bật bếp ga, tiếng lửa xanh bùng lên. "Con về đi. Bà nấu cơm cho mấy đứa sinh viên ở trọ đầu hẻm. Hôm nay chúng nó đặt bốn phần cơm tấm, ba phần phở."
Huy đứng dậy, đeo ba lô lên vai. Trước khi ra cửa, nó quay lại nhìn cái bảng gỗ trên bàn. Cái bảng cũ kỹ, nét sơn đỏ đã bạc màu theo năm tháng. Nó đưa tay vuốt một đường lên mặt bảng. Mặt gỗ nhám, có mấy vết xước sâu, chắc là do ai đó vô ý quẹt dao vào.
"Bà ơi."
"Dạ?"
"Con sẽ suy nghĩ lại. Nhưng con vẫn muốn thử."
Bà Tư không trả lời. Tiếng bà đảo chảo, tiếng dầu ăn xèo xèo. Mùi hành phi lại bốc lên, lần này đậm hơn, thơm hơn, cái mùi mà Huy ngửi là biết ngay sáu giờ sáng của con hẻm 47. Nó bước ra ngoài, đóng cửa lại. Ánh nắng sớm chiếu qua mấy tấm tôn của mấy căn nhà đối diện, hắt lên mặt đường nhựa còn ướt sương đêm. Huy dựng xe máy, nổ máy. Tiếng động cơ nổ giòn tan trong con hẻm còn yên tĩnh. Nó chạy ra đầu hẻm, quẹo trái, hướng về quận Bảy. Trong ba lô có tập hồ sơ thuê mặt bằng, có bản vẽ layout bếp, có danh sách món ăn dự kiến. Có cả một tờ giấy ghi chú nguệch ngoạc mấy công thức bà Tư đọc cho nó hồi năm ngoái, cái hồi bà còn nói "con ghi lại đi, sau này biết đâu cần".
Nó chạy qua cầu, qua mấy cái ngã tư đông xe. Đến quận Bảy, nó dừng trước một tòa nhà mới xây, mặt tiền kính xanh, dưới tầng trệt là một cái bếp inox sáng choang, không bảng hiệu, không ghế, không bàn. Chỉ có một cánh cửa cuốn hai bên hông để shipper lấy hàng. Nó đứng nhìn cái bếp đó một lúc lâu. Trong đầu nó hiện lên cái bảng gỗ cũ kỹ của bà Tư, nét sơn đỏ bạc màu, chữ "Cô Tư" viết tay. Rồi nó nhìn cái bếp inox không tên không tuổi trước mặt. Nó lấy điện thoại ra, mở app đặt đồ ăn, gõ thử tên quán mà nó định đặt.
"Cơm Tấm Cô Tư."
App hiện ra một dòng chữ nhỏ: "Không tìm thấy kết quả."
Huy đút điện thoại vào túi. Nó đứng đó thêm một lúc, nhìn mấy cái xe máy chạy qua lại trên đường, nhìn mấy người shipper đứng chờ trước mấy cái quán khác, nhìn mấy cái túi giấy đựng đồ ăn được treo lủng lẳng trên ghi đông xe. Rồi nó mở cửa cuốn, bước vào trong cái bếp inox sáng choang. Cái bếp trống trơn, sạch sẽ, không mùi, không tiếng, không ai. Nó đứng giữa cái bếp đó, hai tay đút túi quần, nhìn lên trần nhà. Trần nhà cao, có mấy cái đèn tuýp sáng trắng, có mấy cái quạt hút khói inox. Không có gì giống cái bếp của bà Tư cả.
Nó lấy điện thoại ra lần nữa, bấm số bà Tư.
"A lô, bà hả?"
"Ừ, gì đó con?"
"Bà ơi, bà cho con cái công thức nước dùng phở đi. Cái công thức mà bà nói hồi năm ngoái đó. Con ghi trong giấy rồi mà con làm mất."
Đầu dây bên kia im lặng một lúc. Rồi tiếng bà Tư cười khẽ, cái cười của người già khi nghe thằng cháu nói một câu ngớ ngẩn.
"Công thức trong giấy hả? Công thức nằm trong tay bà, trong mắt bà, trong lưỡi bà. Con muốn có công thức thì vô đây, bà nấu cho con ăn một tô. Ăn xong con tự biết."
Huy cười. Nó cúp máy. Nó đứng trong cái bếp inox trống trơn, nghe tiếng máy lạnh chạy ro ro trên trần, nghe tiếng xe cộ ngoài đường vọng vào qua khe cửa cuốn. Nó nhìn cái bếp ga mới tinh, cái nồi inox sáng bóng, cái thớt nhựa trắng chưa có một vết dao. Nó đưa tay sờ lên mặt bếp inox, lạnh toát.
Rồi nó bước ra ngoài, đóng cửa cuốn lại. Nó dựng xe, nổ máy, chạy thẳng về hướng con hẻm 47. Trong đầu nó chỉ có một câu hỏi: nếu không có khách ngồi, không có ai nếm thử, không có ai nói "bà ơi hôm nay nước dùng hơi lạt", thì cái bếp này nấu cho ai, và nấu để làm gì.
Huy chạy xe chậm lại khi qua khỏi cầu Kênh Tẻ. Hai bên đường, mấy tiệm cơm tấm trong hẻm đã dọn hàng, chỉ còn mấy cái bàn nhựa xếp chồng lên nhau, ghế úp lên mặt bàn, đợi sáng mai mở lại. Nó nhìn những cái bàn trống đó mà tự nhiên thấy cổ họng khô. Sáng nay nó uống có một ngụm cà phê sữa, ăn nửa ổ bánh mì không, vậy mà giờ bụng nó nặng như đá.
Về tới hẻm 47, nó dựng xe trước cửa tiệm bà Tư. Cửa sắt mở hé, mùi khói nhang đã tàn bay ra, trộn với mùi nước dùng phở còn sót lại trong nồi. Nó đẩy cửa bước vào. Bà Tư đang ngồi ở cái bàn trong cùng, trước mặt là một tô phở còn bốc khói, bên cạnh là chén tương ớt đã múc sẵn. Bà ngồi quay mặt vào vách, không thấy nó vô.
"Bà còn nấu hả?"
Bà Tư quay lại. Cái khăn rằn giờ buộc ngang hông, tóc bạc xõa xuống hai bên má. Bà nhìn Huy, không cười, không nói, chỉ đẩy nhẹ tô phở về phía đối diện cái ghế trống.
"Ngồi đi."
Huy kéo ghế ngồi xuống. Nó cầm đũa, cầm muỗng, nhưng không ăn ngay. Nó nhìn tô phở. Nước dùng trong vắt, mấy lát thịt bò tái vẫn còn hồng hồng ở giữa, hành lá cắt nhuyễn rắc đều trên mặt, một chút tiêu rang thơm lừng. Nó húp một ngụm nước dùng. Vị ngọt của xương bò hầm đêm qua, vị mặn vừa phải của nước mắm, vị thơm nhẹ của gừng nướng và hành tím cháy cạnh. Cái vị mà nó uống từ hồi nhỏ tới giờ, chưa lần nào thay đổi.
"Bà nêm hôm nay hơi ngọt." Huy nói.
Bà Tư gật đầu. "Ừ. Hôm nay xương bò non, ngọt hơn mọi ngày. Bà nêm ít muối lại."
Huy húp thêm hai ngụm nữa. Nó ngồi ăn hết tô phở, từng lát thịt, từng cọng hành, tới khi cái tô trắng trơn. Bà Tư ngồi im nhìn nó ăn. Không hỏi gì. Không nói gì. Chỉ rót thêm ly trà nguội đặt bên tay nó.
"Ăn xong rồi." Huy đẩy tô ra.
"Ừ. Vậy giờ con nói đi. Hồi sáng con nói con muốn thử. Con thử tới đâu rồi?"
Huy kể cho bà nghe. Cái bếp inox bên quận Bảy. Cái mặt bằng ba mươi lăm mét vuông, có sẵn hệ thống điện ba pha, có sẵn quạt hút, có sẵn đường ống nước. Chủ nhà cho thuê mười tám triệu một tháng, hợp đồng ba năm, đóng trước sáu tháng. Nó đã coi rồi, đã tính rồi. Chỉ cần ký giấy, mua thiết bị, đăng ký với app là chạy được trong hai tuần.
"Con có đủ tiền không?"
"Dạ có. Con để dành được hơn trăm triệu. Mua thiết bị tầm bảy chục, còn lại để xoay vốn mấy tháng đầu."
Bà Tư im lặng. Bà đứng dậy, ra sau quầy, mở cái ngăn kéo gỗ đã kẹt cứng, lấy ra một cuốn sổ nhỏ bìa da đã sờn. Bìa sổ ghi mấy chữ bằng bút bi xanh, nét chữ run run: "Sổ ghi nợ". Bà đặt cuốn sổ lên bàn trước mặt Huy.
"Con mở ra coi."
Huy mở cuốn sổ. Trang đầu tiên ghi ngày tháng năm nào đó rất cũ. Từng dòng chữ ngay ngắn, mỗi dòng có tên người, số tiền, ngày trả. Có người nợ hai chục, có người nợ năm chục, có người nợ một trăm. Có dòng ghi "chị Bảy bán vé số, nợ 3 tô phở, hẹn thứ hai trả". Có dòng ghi "thằng Tuấn con bà Hai, nợ 5 phần cơm, nói mai trả mà ba tháng chưa trả". Có dòng ghi "ông Sáu xe ôm, nợ 1 tô phở, trả rồi, thêm 1 tô nữa, ghi sổ". Huy lật thêm mấy trang. Trang nào cũng đầy. Người này trả, người kia nợ, có người nợ rồi trả, có người nợ rồi mất tích. Bà Tư không gạch tên ai. Bà chỉ ghi thêm.
"Bà cho người ta nợ hả?"
"Ừ. Người ta tới ăn, người ta trả tiền. Người ta không có tiền, người ta nói mai trả. Bà ghi sổ. Mai người ta trả thì bà gạch. Mai người ta không trả thì bà để đó. Có người mấy năm sau quay lại trả, trả luôn cả lời, bà nói không cần lời, trả đủ là được. Có người không quay lại. Bà cũng không đi đòi. Cái tiệm này sống được bốn mươi năm là nhờ mấy người đó, con."
Huy gấp cuốn sổ lại. Nó hiểu bà muốn nói gì. Nhưng nó cũng biết cái sổ đó không chạy được trong cái app. App không có chỗ cho người ta nợ. App bắt trả tiền trước, hoặc trả khi nhận hàng. Không có chuyện "mai trả". Không có chuyện "bà ghi sổ".
"Bà ơi, con hiểu bà nói gì. Nhưng mà..."
"Con không hiểu đâu." Bà Tư ngắt lời. Bà ngồi xuống đối diện, hai tay đặt lên mặt bàn. "Con nghĩ bà già rồi, bà không biết gì về mấy cái app. Con nghĩ bà sợ mất khách. Không phải. Bà sợ con nấu ăn mà không biết mình nấu cho ai."
Huy im. Ngoài hẻm, tiếng xe ba gác chở hàng kêu leng keng, tiếng mấy bà bán rau gọi nhau í ới. Trong tiệm, cái quạt trần quay chậm, kêu cót két. Bà Tư nhìn nó, mắt bà không giận, không buồn, chỉ có cái nhìn của người đã thấy quá nhiều thứ đi qua rồi đi mất.
"Hồi con còn nhỏ, con hay ngồi ở cái ghế đó." Bà chỉ cái ghế sát vách. "Con ngồi đó coi bà nêm nếm. Bà nêm xong, bà múc một muỗng cho con nếm thử. Con nếm xong, con nói 'ngon'. Bà hỏi 'ngon sao'. Con nói 'ngon hơn hôm qua'. Bà hỏi 'hôm qua sao'. Con nói 'hôm qua hơi mặn'. Vậy là bà biết bà phải làm gì. Con có nhớ không?"
"Dạ nhớ."
"Con nhớ mà con không hiểu. Cái đó không phải công thức. Cái đó là người ăn. Không có người ăn, bà nấu cho ai? Con mở cái bếp bên kia, con nấu cho điện thoại. Điện thoại không nếm được. Điện thoại không nói 'hôm nay hơi mặn'. Con nấu một tháng, hai tháng, ba tháng, con không biết mình nấu ngon hay dở. Con chỉ biết đơn hàng tăng hay giảm. Vậy thôi."
Huy cầm ly trà lên, uống một ngụm. Trà nguội, hơi chát. Nó nhìn cái bảng gỗ cũ kỹ vẫn còn nằm trên bàn, chữ "Cô Tư" viết tay, nét sơn đỏ đã bạc màu. Nó đưa tay vuốt lại lần nữa, lần này chậm hơn.
"Bà cho con mượn cái bảng này được không?"
Bà Tư nhìn nó. Cái nhìn dài, như thể bà đang cân nhắc một điều gì đó quan trọng hơn cả cái bảng.
"Con lấy làm gì?"
"Con treo trong cái bếp bên kia. Con không có chỗ cho khách ngồi, nhưng con có chỗ treo bảng. Khách không thấy, nhưng con thấy. Mấy đứa shipper thấy. Con thấy là con biết mình nấu cho ai."
Bà Tư im lặng một lúc lâu. Rồi bà đứng dậy, đi ra sau quầy, lấy cái bảng gỗ lên, lau sạch bụi bằng cái khăn rằn trên hông. Bà đưa nó cho Huy.
"Con cầm đi. Nhưng bà nói trước, cái bảng này không nấu ăn được. Nó chỉ nhắc con nhớ mình là ai. Con treo nó lên, con nấu. Con nấu mà không có ai nếm, thì con tự nếm. Con nếm xong, con tự hỏi 'hôm nay ngon hơn hôm qua không'. Nếu con trả lời được, con mới sống được với nghề."
Huy đứng dậy, cầm cái bảng. Nó nặng hơn nó tưởng. Mặt gỗ dày, có mấy vết nứt nhỏ ở góc, có mấy vết dao quẹt ngang. Nó đặt cái bảng xuống bàn, cúi đầu chào bà.
"Con cảm ơn bà."
"Ừ. Về đi. Mai qua bà nấu cho tô phở nữa. Bà mới nêm nước dùng hôm qua, chưa vừa ý."
Huy bước ra cửa. Nó quay lại nhìn lần cuối. Bà Tư đã quay vào bếp, tiếng bà bắt đầu đảo chảo, tiếng dầu ăn xèo xèo, mùi hành phi lại bốc lên. Cái mùi sáu giờ sáng của con hẻm 47. Cái mùi mà nó ngửi từ hồi nhỏ, tới giờ vẫn còn nguyên. Nó đóng cửa lại, dựng xe, chạy về hướng quận Bảy.
Ba tháng sau, cái bếp inox bên quận Bảy đã có bảng hiệu. Không phải bảng sơn dầu đỏ như bà Tư, mà là một tấm bảng in kỹ thuật số, chữ trắng trên nền gỗ ép, ghi "Cơm Tấm Cô Tư". Cái bảng gỗ cũ kỹ của bà thì treo trong bếp, phía trên cái bếp ga, chỗ mà chỉ có Huy và mấy đứa phụ bếp thấy. Cái bảng không được lau thường xuyên, bụi mỡ bám lên, chữ "Cô Tư" mờ dần theo thời gian. Nhưng Huy không lau. Nó để vậy. Nó nói "để vậy giống bà Tư hơn".
Huy nấu một mình trong hai tháng đầu. Nó dậy từ bốn giờ sáng, hầm xương, nướng gừng, rang tiêu. Nó làm y chang công thức trong cuốn sổ nó ghi hồi năm ngoái. Nhưng nước dùng không ngon như bà Tư. Nó nêm đi nêm lại, múc một muỗng, húp thử, thấy lạt, thêm muối, thấy mặn, thêm nước. Nó nhớ lời bà Tư nói: "Con nấu mà không có ai nếm, thì con tự nếm." Nó tự nếm. Nó ăn một tô phở của chính mình mỗi ngày. Ngày đầu, nó thấy dở. Ngày thứ hai, nó thấy đỡ dở. Ngày thứ mười, nó thấy tạm được. Ngày thứ ba mươi, nó thấy giống bà Tư. Ngày thứ bốn mươi, nó thấy bà Tư nấu ngon hơn.
Một hôm, có đơn hàng ghi chú: "Nước dùng hơi lạt, cho thêm muối." Huy đọc dòng đó, nó đứng im trong bếp một lúc. Rồi nó múc một muỗng nước dùng, húp thử. Nó thấy lạt thật. Nó thêm muối, khuấy đều, giao đơn đi. Đêm đó, nó gọi cho bà Tư.
"A lô, bà hả?"
"Ừ, gì đó con?"
"Bà ơi, hôm nay có khách nói nước dùng của con hơi lạt."
Đầu dây bên kia im lặng một lúc. Rồi tiếng bà Tư cười, cái cười khẽ của người già.
"Vậy là con biết nấu rồi đó."
"Dạ?"
"Khách nói lạt, con biết lạt là sao. Con biết lạt rồi con sửa. Vậy là con nấu được. Bà nấu bốn mươi năm, bà cũng bắt đầu bằng một câu như vậy. Có người nói bà nấu lạt, bà mới biết bà nêm thiếu. Con giống bà rồi đó."
Huy cười. Nó cúp máy. Nó đứng trong cái bếp inox trống trơn, nghe tiếng máy lạnh chạy ro ro trên trần. Nó nhìn cái bảng gỗ cũ kỹ treo trên vách, chữ "Cô Tư" đã mờ vì dầu mỡ. Nó không lau. Nó để vậy.
Ba tháng sau nữa, cái bếp bên quận Bảy bắt đầu có lời. Không nhiều, nhưng đủ trả tiền thuê và lương cho hai đứa phụ bếp. Huy vẫn dậy sớm, vẫn tự nêm nếm, vẫn tự ăn một tô phở của chính mình mỗi ngày. Nó không còn hỏi "nấu cho ai". Nó biết nó nấu cho mấy người ở nhà, mấy người ở công ty, mấy người ngồi trước máy tính vừa ăn vừa coi phim. Nó không thấy mặt họ, nhưng nó biết họ ăn. Có người ghi chú "ngon lắm", có người ghi chú "hơi mặn", có người ghi chú "cho thêm hành". Nó đọc từng dòng, sửa từng chút. Nó không nấu cho điện thoại. Nó nấu cho người ở đầu dây bên kia cái điện thoại.
Một hôm, Huy về hẻm 47. Nó dựng xe trước cửa tiệm bà Tư. Cửa sắt mở, mùi hành phi bốc ra, mùi nước dùng phở còn nóng. Bà Tư ngồi ở cái bàn trong cùng, trước mặt là một tô phở còn bốc khói. Bên cạnh là một cái ghế trống.
"Ngồi đi." Bà Tư nói, không quay lại.
Huy ngồi xuống. Nó húp một ngụm nước dùng. Vị ngọt của xương bò, vị mặn vừa phải của nước mắm, vị thơm của gừng nướng. Cái vị mà nó uống từ hồi nhỏ tới giờ. Nó húp thêm một ngụm nữa.
"Bà nêm hôm nay vừa rồi." Huy nói.
Bà Tư quay lại. Bà nhìn nó, mắt bà có cái gì đó như là cười, như là không cười.
"Ừ. Hôm nay bà nêm vừa. Bà nếm thử ba lần mới vừa."
Huy ăn hết tô phở. Nó đứng dậy, cầm cái bảng gỗ cũ kỹ trên bàn, cái bảng mà nó mượn ba tháng trước, giờ nó mang trả. Nó đặt cái bảng xuống trước mặt bà Tư.
"Con trả bà cái bảng."
Bà Tư nhìn cái bảng. Bà đưa tay vuốt mặt gỗ, chỗ có mấy vết dao quẹt ngang.
"Con không treo nữa hả?"
"Dạ còn treo. Nhưng con mua cái bảng mới rồi. Cái này con trả bà, để bà treo lại chỗ cũ."
Bà Tư im lặng. Bà cầm cái bảng lên, đi ra sau quầy, treo nó lên bức vách gỗ ép đã bong tróc. Cái bảng nằm đó, chữ "Cô Tư" viết tay, nét sơn đỏ đã bạc màu. Bà đứng nhìn nó một lúc, rồi quay lại.
"Con ăn no chưa?"
"Dạ no."
"Vậy về đi. Mai qua bà nấu cho tô nữa. Bà mới nêm nước dùng hôm qua, chưa vừa ý."
Huy cười. Nó bước ra cửa. Ngoài hẻm, tiếng xe rác đẩy qua, tiếng leng keng của mấy cái nắp thùng nhựa. Một con mèo hoang nhảy lên mái tôn của tiệm bên cạnh. Huy dựng xe, nổ máy. Nó chạy ra đầu hẻm, quẹo trái, hướng về quận Bảy. Trong ba lô có tập hồ sơ thuê mặt bằng, có bản vẽ layout bếp, có danh sách món ăn. Có cả một tờ giấy ghi chú nguệch ngoạc mấy công thức bà Tư đọc cho nó hồi năm ngoái. Nó chạy qua cầu, qua mấy cái ngã tư đông xe. Đến quận Bảy, nó dừng trước tòa nhà mới xây, mặt tiền kính xanh, dưới tầng trệt là cái bếp inox sáng choang. Nó mở cửa cuốn, bước vào. Cái bếp trống trơn, sạch sẽ, không mùi, không tiếng, không ai. Nó đứng giữa cái bếp đó, hai tay đút túi quần, nhìn lên cái bảng gỗ mới treo trên vách. Chữ "Cơm Tấm Cô Tư" in kỹ thuật số, trắng trên nền gỗ ép. Nó nhìn một lúc, rồi bật bếp ga, bắt đầu nấu. Tiếng lửa xanh bùng lên. Mùi hành phi bốc lên trong cái bếp inox không có khách ngồi. Nhưng Huy biết, ở đâu đó ngoài kia, có người đang đợi tô phở của nó. Và nó nấu cho người đó.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 10 →