🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: [email protected]

Mùi khói bếp quện với mùi nước dùng xương heo ninh từ bốn giờ sáng đã ngấm vào tường gạch của căn nhà cũ. Cái mùi ấy, mười hai năm rồi tôi chưa gặp lại. Ở nhà hàng, bếp lúc nào cũng sạch bóng inox, hút mùi chạy êm ru, nấu xong là nguyên liệu thừa cuốn vào túi ni lông, mùi bay theo ống khói lên trời. Còn ở đây, mùi nó bám lại, nó ngủ trong mái ngói, nó dậy cùng tôi mỗi lần tôi bước vào sân lúc tờ mờ sáng.

Tôi mở cửa cuốn, cái cửa sắt gỉ kêu một tràng dài như người già ho. Hàng xóm đối diện, bà Tư bán tạp hóa, đã ngồi sẵn trước cái tủ kính từ lúc nào, tay phe phẩy quạt mo cau.

"Về thật hả con?"

"Về thật, bà Tư."

"Bỏ cái chỗ Sài Gòn sang trọng đó à?"

"Bỏ."

Bà nhìn tôi một hồi, rồi hỏi câu hỏi mà mấy hôm nay tôi nghe ít nhất chục lần, từ cô chú ruột thịt cho tới mấy đứa bạn cấp ba cũ: "Sao không ở lại làm cho người ta, ăn lương tháng mấy chục triệu? Về đây bán cho ai?"

Tôi cười, xắn tay áo, bắt đầu kéo cái bàn inox ra trước sân. Đây, cái bàn này, hồi đó ba tôi mua lại của ông thợ hàn đầu xóm, hai trăm ngàn, hồi đó là cả tuần lương. Ba bảo cái bàn này dày, chặt thịt không hư. Giờ nó vẫn dày, vẫn không hư, chỉ có người đứng sau nó là đổi.

Quán tên "Cơm Bà Bảy". Bà Bảy là bà nội tôi. Hồi bà còn sống, quán bán từ sáu giờ sáng tới tám giờ tối, ai ghé cũng có cơm. Ba tôi tiếp quản, rồi ba mất, quán đóng cửa gần bảy năm. Anh trai tôi nói bán cái nhà này đi, được mấy tỉ, chia đôi. Tôi nói để tao về mở lại. Ảnh tưởng tôi nói chơi. Đến lúc tôi xách vali về thật, ảnh mới tin.

Vợ tôi không nói gì nhiều. Cô ấy nhìn căn nhà, nhìn cái sân, nhìn cái bàn inox, rồi nói một câu: "Anh chắc chứ?" Tôi nói chắc. Cô im. Đêm đó hai vợ chồng nằm trên cái giường cũ, nghe tiếng ếch ngoài ao vọng vào, cô mới hỏi: "Sao anh không nói với em sớm hơn?" Tôi nói tại vì em sẽ cản. Cô cười, tiếng cười nghe buồn. "Ừ, em cản thật."

Sáng hôm sau, cô dậy lúc năm giờ, phụ tôi dọn quán. Cái chổi tre quét sân kêu xào xạc, tiếng đó làm tôi nhớ hồi nhỏ, mỗi lần bà Bảy quét sân là bọn tôi biết sắp có cơm ăn.

Món đầu tiên tôi nấu lại là canh chua cá lóc. Công thức của bà Bảy, ba tôi viết lại trong cuốn sổ nhựa bìa đỏ, giờ nằm trong ngăn kéo tủ bếp. Nước dùng nấu từ cá lóc đồng, me vắt, cà chua, đậu bắp, giá. Bà Bảy không dùng hạt nêm, bà dùng muối hột, đường thốt nốt, một chút nước mắm nhĩ. Cái vị đó, nấu ở nhà hàng không bao giờ ra. Nhà hàng nấu canh chua bằng cá hồi Na Uy, nêm bằng bột me Nhật, khách khen ngon, đầu bếp được thưởng, nhưng không ai trong bếp nhớ cái vị canh chua quê mình.

Tôi múc một chén, đưa cho bà Tư. Bà húp một hơi, im lặng một hồi lâu. Rồi bà nói: "Giống bà Bảy nấu. Hơi thiếu chút me." Tôi gật đầu. Đúng, thiếu me. Tôi cố tình nấu nhạt hơn, vì tôi biết cái miệng người già bây giờ không ăn chua gắt như hồi xưa.

Chiều đó, anh Hai tôi ghé. Ảnh chạy xe tải, ghé vào lúc ba giờ, ngồi cái ghế nhựa, nhìn quanh quán, nhìn cái bảng hiệu mới vẽ lại nhưng vẫn giữ chữ "Cơm Bà Bảy" như cũ.

"Mày làm thật à?"

"Thật."

"Được mấy khách?"

"Hôm nay bán được bốn phần."

Ảnh cười. "Bốn phần. Bốn phần cơm. Trong khi mày nấu ở nhà hàng đó, một đêm mấy trăm phần."

"Một đêm mấy trăm phần nhưng không phần nào của mình."

Ảnh im. Anh Hai tôi, hồi trẻ đi bộ đội, rồi đi làm công nhân, rồi chạy xe tải. Ảnh không hiểu cái chuyện một đầu bếp muốn nấu món của mình. Ảnh nghĩ làm nhà hàng sang là sướng, mặc đồ trắng tinh, đứng bếp máy lạnh, lương tháng cao gấp năm lần bán quán cóc. Ảnh không sai. Nhưng ảnh không biết mỗi lần tôi nêm nước dùng cho khách Tây, tôi phải theo công thức của bếp trưởng, không được lệch một gram muối. Mỗi lần tôi làm món Việt cho khách nước ngoài, phải gọi nó là "fusion", phải bày lên đĩa sứ trắng, phải nói tiếng Anh giới thiệu. Tôi làm được. Tôi làm giỏi. Nhưng mỗi lần về nhà trọ, tôi nằm ngửi mùi dầu gội trên tóc mình, không ngửi thấy mùi bếp quê. Cái mùi đó mất rồi.

Anh Hai đứng dậy, vỗ vai tôi. "Thôi, mày lớn rồi. Lỗ thì đừng kêu tao."

"Không kêu."

Ảnh leo lên xe, nổ máy, chạy đi. Khói xe tan nhanh trong cái nắng chiều.

Sáng hôm sau, có một cô gái trẻ ghé. Cô mặc áo sơ mi trắng, quần tây, giày búp bê, ngồi xuống cái bàn nhựa, nhìn cái menu tôi viết tay dán trên tường. Menu có bốn món: cơm tấm sườn, canh chua cá lóc, thịt kho trứng, rau luộc kho quẹt. Giá bằng một nửa quán trong trung tâm thương mại.

"Có gì ăn nhanh không anh? Em sắp trễ làm."

"Cơm tấm, hai phút."

Tôi nướng sườn trên than, mỡ chảy xuống kêu xèo xèo. Cô gái nhìn cái bếp than, nhìn cái quạt giấy tôi treo trên trần, nhìn cái nồi cơm điện cũ. Cô hỏi: "Quán này lâu chưa anh?"

"Lâu rồi. Bà nội em mở, giờ em mở lại."

"Vậy anh là đời thứ ba?"

"Ừ. Chắc vậy."

Cô ăn một miếng, rồi ăn thêm một miếng nữa. Cô nói: "Ngon hơn chỗ em hay ăn. Mà chỗ em hay ăn đắt gấp ba."

Tôi cười. Không nói gì. Trong đầu tôi nhớ lại cái đêm cuối ở nhà hàng. Bếp trưởng gọi tôi vào, nói: "Tao ký hợp đồng mới cho mày, lương tăng ba chục phần trăm, nhưng mày phải theo tao qua chi nhánh mới ở Hà Nội." Tôi nói để tôi suy nghĩ. Đêm đó tôi nằm, không ngủ được. Tôi nhớ cái sân nhà, nhớ cái bàn inox, nhớ cái mùi khói bếp. Tôi mở điện thoại, coi hình cũ. Có một tấm hình ba tôi đứng sau quán, cười, tay cầm cái muỗng. Tấm hình chụp năm tôi mười tám, trước khi tôi đi học nghề. Tôi coi tấm hình đó tới ba giờ sáng, rồi tắt đèn, nằm trong bóng tối, và tôi biết tôi sẽ về.

Cô gái ăn xong, trả tiền, đứng dậy. Cô nói: "Mai em ghé nữa."

"Ừ. Mai em ghé."

Cô đi rồi, tôi ngồi một mình trước cái bàn inox. Trời trưa nắng gắt, mùi khói bếp đã tan, chỉ còn mùi nước dùng xương heo vẫn còn vương trong tường gạch. Tôi lấy cuốn sổ bìa đỏ ra, mở trang cuối. Ba tôi viết ở đó một dòng chữ nguệch ngoạc, bằng bút bi xanh, từ hồi nào không biết: "Nấu cho người ta ăn, nhớ nấu bằng cái bụng của mình."

Tôi gấp sổ lại, cất vào ngăn kéo. Ngoài kia, con hẻm bắt đầu đông. Tiếng xe máy, tiếng trẻ con, tiếng bà Tư gọi khách mua đường. Tôi đứng dậy, rửa cái nồi, thay nước dùng mới. Chiều nay còn phải nấu thịt kho. Thịt kho phải nấu lửa nhỏ, ít nhất ba tiếng. Ba tiếng đó, tôi sẽ ngồi đây, nhìn ra cái hẻm, nghe tiếng quen, ngửi mùi quen. Và tôi nghĩ tới chuyện bà Bảy hồi xưa vẫn hay nói: "Quán này, bán cho người trong xóm. Người trong xóm ăn no, mình mới ngủ ngon."

Ngày thứ mười, quán đông khách hơn tôi tưởng. Không phải đông kiểu nhà hàng, mà đông kiểu xóm. Chị bán rau đầu hẻm ghé ăn sáng, ăn xong gửi lại một bó cải, nói để chiều tao lấy tiền. Chú xe ôm ngồi cái bàn góc, ăn dĩa cơm tấm, ăn xong ngồi thêm hai tiếng, kể chuyện hồi xưa quán bà Bảy bán cơm cho công nhân xưởng dệt, mỗi trưa cả trăm người, bà Bảy nấu ba nồi cơm mới đủ. Tôi nghe, gật gù, tay vẫn thoăn thoắt cắt sườn. Cái mùi than nướng quện với mùi mỡ hành nóng, nó bay lên, nó đậu trên vai áo tôi, nó không chịu đi.

Đến tuần thứ ba, cái quán bắt đầu có khách quen. Cô gái áo sơ mi trắng hôm trước, tên Linh, giờ ghé đều lắm. Cô làm ở công ty gần đó, trưa nào cũng ghé, ngồi cùng một chỗ, gọi cùng một món, cơm tấm sườn không đồ chua, thêm chén canh. Có hôm cô ghé hai lần, sáng ăn hủ tiếu, chiều ăn cơm. Cô nói quán anh nấu ăn giống mẹ em nấu. Tôi hỏi mẹ em ở đâu. Cô nói mẹ em mất rồi, hồi em học năm hai. Tôi im. Cô cũng im. Cô ăn hết dĩa cơm, cô đứng dậy, cô nói: "Cảm ơn anh. Nay em ăn ngon hơn mọi ngày."

Vợ tôi, mấy hôm đầu, còn phụ tôi rửa chén. Đến tuần thứ hai, cô nói cô xin được việc ở trường mẫu giáo trong xã, dạy bán trú, lương ba triệu rưỡi. Tôi nói ừ. Cô đi làm. Sáng cô đi sớm, chiều về muộn. Có hôm cô về, cơm nước đã dọn, tôi ngồi cái ghế nhựa trước sân, ngửi khói thuốc lá. Cô hỏi: "Anh hút lại à?"

"Ừ."

"Hồi ở Sài Gòn anh cai rồi mà."

"Hồi đó khác."

Cô không nói gì thêm. Cô vào nhà, đóng cửa buồng. Tôi ngồi ngoài sân, điếu thuốc cháy tới ngón tay. Tôi nhìn cái bảng hiệu "Cơm Bà Bảy", đèn néon hắt xuống cái sân gạch, hắt xuống cái bàn inox. Cái bàn vẫn dày, vẫn không hư. Chỉ có người đứng sau nó là mệt hơn mỗi ngày.

Cuối tháng, tôi tính sổ. Tiền thu, tiền chi, tiền điện, tiền gas, tiền thịt, tiền cá. Tôi ngồi cái bàn inox, lấy cuốn sổ bìa đỏ ra, viết con số cuối cùng. Lỗ. Lỗ gần bảy triệu. Tôi ngồi im, nhìn con số đó. Nó không lớn, nó không nhỏ, nó vừa đủ để tôi biết mình đang làm cái gì.

Anh Hai ghé tối đó. Ảnh không ăn, ảnh chỉ ngồi, nhìn cái quán, nhìn cái sân, nhìn mấy cái bàn nhựa đã xếp chồng lên nhau. Ảnh hỏi: "Lỗ hả?"

"Ừ."

"Bao nhiêu?"

"Bảy triệu."

Ảnh cười. "Một đêm mày nấu ở nhà hàng, mày kiếm được bảy triệu."

"Ừ. Nhưng đó là tiền của người ta."

"Tiền nào cũng là tiền."

"Không phải."

Ảnh nhìn tôi. Ảnh nói: "Mày giống ba. Ba hồi đó cũng vậy. Bà Bảy mất, ba giữ quán, lỗ ba năm liền, bán cả cái xe đạp để mua thịt. Tao hỏi sao không đóng quán. Ba nói ba không đóng được, đóng quán là đóng luôn cái bếp của bà Bảy. Tao hồi đó không hiểu. Giờ tao cũng không hiểu. Nhưng tao không nói mày nữa."

Ảnh đứng dậy, móc túi, lấy ra một xấp tiền, để lên bàn inox. "Năm triệu. Tao cho mày vay. Trả tao khi nào có. Không lãi."

Tôi nhìn xấp tiền. Tôi nói: "Anh Hai."

"Gì?"

"Em cảm ơn."

Ảnh không nói gì. Ảnh leo lên xe tải, nổ máy, chạy đi. Khói xe tan nhanh trong cái tối. Tôi cầm xấp tiền, xếp lại, cất vào ngăn kéo, bên cạnh cuốn sổ bìa đỏ. Tôi không nghĩ tới chuyện trả. Tôi nghĩ tới chuyện ba tôi hồi đó bán xe đạp. Tôi nghĩ tới chuyện bà Bảy nấu cơm cho công nhân xưởng dệt. Tôi nghĩ tới chuyện cái bếp này, nó không phải của tôi, nó không phải của ba tôi, nó không phải của bà Bảy. Nó là của cái xóm này. Cái xóm này ăn cơm của bà Bảy từ hồi chưa có điện, ăn cơm của ba tôi hồi còn bao cấp, giờ ăn cơm của tôi. Tôi không thể đóng nó. Đóng nó là đóng luôn cái dây đó.

Sáng hôm sau, tôi dậy sớm hơn mọi ngày. Ba giờ rưỡi. Trời còn tối, cái sân còn ướt sương. Tôi nhóm bếp than, bắt nồi nước dùng. Xương heo, củ cải, hành tây, gừng nướng. Tôi ninh lửa nhỏ, để nó sôi lăn tăn, để cái mùi nó bay ra, nó ngấm vào tường gạch, nó đánh thức cái xóm. Tôi lấy cuốn sổ bìa đỏ, mở trang mới. Tôi viết: "Cách nấu nước dùng của bà Bảy. Xương heo ninh sáu tiếng. Không hạt nêm. Muối hột, đường thốt nốt, nước mắm nhĩ. Nêm vừa ăn, không nêm vừa miệng khách." Tôi viết xong, tôi gạch dưới dòng đó một gạch.

Vợ tôi dậy, đứng ở cửa bếp, nhìn tôi. Cô nói: "Anh dậy sớm vậy?"

"Ừ. Nấu nước dùng."

Cô im. Rồi cô nói: "Em xin lỗi."

Tôi quay lại. "Sao em xin lỗi?"

"Em biết anh lỗ. Em biết anh vay anh Hai. Em không phụ anh được nhiều."

Tôi nói: "Em đi dạy là phụ anh rồi. Em có công việc của em. Anh không cần em đứng bếp. Anh cần em ngủ ngon."

Cô cười. Cái cười này khác cái cười hôm đầu. Cô nói: "Hôm nay em nghỉ. Em phụ anh nấu."

Cô xắn tay áo, rửa rau. Cái bồn nước cũ kêu rỉ rả, nước chảy xuống, cô rửa từng cọng cải. Tôi nhìn cô, tôi nhớ hồi mới cưới, hai vợ chồng ở cái phòng trọ ba mươi mét vuông, cô cũng rửa rau, cũng xắn tay áo như vậy. Hồi đó tôi chưa làm nhà hàng. Hồi đó tôi còn nấu bằng cái bụng của mình.

Trưa hôm đó, quán đông hơn mọi ngày. Chị bán rau ghé, chú xe ôm ghé, cô Linh ghé, rồi mấy người trong xóm kéo tới, ngồi kín hai cái bàn nhựa. Một ông già tóc bạc ngồi góc, ăn dĩa cơm tấm, ăn hết, ông nói: "Hồi xưa tao ăn cơm bà Bảy mỗi trưa. Bà Bảy nấu sườn nướng than, mỡ chảy xuống kêu xèo xèo. Giờ mày nướng y chang."

Tôi nói: "Bà nội cháu nướng than, cháu cũng nướng than."

Ông nói: "Ừ. Giữ vậy đi. Đừng đổi."

Ông đứng dậy, trả tiền, đi. Tôi nhìn theo cái lưng còng của ông, tôi nhớ ra ông này hồi nhỏ tôi hay gọi là ông Tám Cò, bán cá ngoài chợ. Ông ăn cơm bà Bảy từ hồi tôi chưa sinh ra. Ông không nhớ tôi, nhưng ông nhớ cái vị sườn nướng than. Cái vị đó, nó không nằm trong công thức, nó nằm trong cái bếp này, nó nằm trong cái xóm này, nó không thể mang đi đâu được.

Chiều đó, cô Linh ghé, ngồi cái bàn góc. Cô ăn chậm hơn mọi ngày. Cô ăn xong, cô gọi tôi lại. Cô nói: "Anh ơi, em có chuyện muốn hỏi."

"Em hỏi đi."

"Em làm ở công ty, em chán lắm. Em muốn nghỉ. Em muốn mở cái gì đó nhỏ nhỏ, như quán anh vậy. Anh nghĩ em làm được không?"

Tôi im. Tôi nhìn cô gái trẻ, áo sơ mi trắng, quần tây, giày búp bê. Cô ngồi cái ghế nhựa, sau lưng cô là cái bảng hiệu "Cơm Bà Bảy". Tôi nói: "Em làm được. Nhưng em phải chuẩn bị tinh thần. Mấy tháng đầu sẽ khó. Em lỗ, em mệt, em muốn bỏ. Nhưng nếu em nấu bằng cái bụng của mình, em sẽ không bỏ được."

Cô cười. Cô nói: "Em cảm ơn anh. Mai em ghé nữa."

Cô đi rồi, tôi ngồi một mình trước cái bàn inox. Trời chiều, nắng đã tắt, gió từ ngoài hẻm thổi vào, mang theo mùi cơm, mùi khói, mùi nước dùng. Tôi lấy cuốn sổ bìa đỏ ra, mở trang mới nhất. Tôi viết: "Quán này, bán cho người trong xóm. Người trong xóm ăn no, mình mới ngủ ngon." Tôi viết xong, tôi gấp sổ, cất vào ngăn kéo. Tôi đứng dậy, rửa cái nồi, thay nước dùng mới. Mai tôi phải nấu thịt kho. Thịt kho phải nấu lửa nhỏ, ít nhất ba tiếng. Ba tiếng đó, tôi sẽ ngồi đây, nhìn ra cái hẻm, nghe tiếng quen, ngửi mùi quen. Và tôi biết, cái quán này, nó không phải của tôi. Nó là của bà Bảy, của ba tôi, của cái xóm này. Tôi chỉ là người đứng bếp. Tôi chỉ là người giữ lửa. Và cái lửa đó, nó chưa tắt. Nó vẫn cháy, nó vẫn ấm, nó vẫn nấu cơm cho người trong xóm ăn.

Hết Chương 12
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 13 →
← TrướcTiếp →