"Bấy giờ trong nước không có chủ, mười hai sứ quân tranh nhau làm trưởng."
— Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (diễn theo, xem chú thích) †
Bột về vào ngày thứ ba mươi tám, đi bộ, không có ngựa, và quỳ ở giữa sân gạch đúng chỗ hắn đã quỳ hôm mang tin chú ông chết.
"Đứng lên."
"Bẩm Điện hạ, thần đứng được."
"Vậy thì đứng."
Hắn đứng. Ngô Xương Xí nhìn xuống chân hắn trước khi nhìn lên mặt.
Đôi dép cỏ. Chiếc bên phải còn dày, đế mòn đều. Chiếc bên trái mòn vẹt hẳn một bên, mòn tới mức phần cỏ bện đã đứt và lộ lớp lót bên dưới, và bàn chân trái của hắn vì thế đặt nghiêng khi đứng.
"Chân ngươi làm sao."
"Bẩm, chân thần không sao. Dép thì hỏng."
"Vì sao hỏng một bên."
"Bẩm, vì đi đê." Bột cúi xuống nhìn dép mình như vừa được nhắc. "Mặt đê bao giờ cũng nghiêng, thưa Điện hạ. Đi ngược chiều nước thì lệch bên trái, đi xuôi thì lệch bên phải. Thần đi ngược gần suốt."
"Ngươi đi ngược suốt là đi đâu."
"Bẩm, đi lên."
Trong nhà giữa, Đàm Kỳ trải một tấm chiếu con lên bàn và đặt lên đó một nắm thẻ tre chưa khắc. Trịnh Cẩn ngồi phía đối diện, hai tay úp trên đầu gối.
"Ngươi kể từ chỗ nào cũng được," Ngô Xương Xí nói. "Nhưng kể theo đường ngươi đi, đừng kể theo đường ngươi nghĩ."
"Bẩm, thần tuân. Thần ra khỏi đất ta ngày thứ tư. Từ đấy lên phía bắc, đi được ba ngày thì có người chặn ở bến đò. Họ hỏi thần đi đâu, thần nói đi tìm anh, họ cho qua, lấy của thần cái nón."
"Ai chặn."
"Bẩm, họ nói họ là người của Đỗ tướng quân." Bột dừng. "Nhưng người ấy nói giọng Ái Châu, thưa Điện hạ. Người của Đỗ Động Giang không nói giọng ấy."
Trịnh Cẩn ngẩng đầu lên. "Vậy là kẻ cướp mượn tên."
"Bẩm tướng quân, thần nghĩ thế. Vì họ lấy nón mà không lấy gạo. Người của một chủ tướng thì lấy gạo, người đói thì lấy gạo. Chỉ có kẻ cướp mới lấy cái đội đầu."
Đàm Kỳ khắc một nét lên thẻ tre.
"Đi tiếp."
"Bẩm, qua đấy thì đến vùng Đỗ Động Giang thật. Chỗ ấy dễ đi nhất trong cả chuyến. Đường có người quét, đê có người vá, hai bên đê trồng tre. Thần vào một quán nước, chủ quán là đàn bà, bà ta hỏi thần đi đâu."
"Bà ta nói gì."
"Bẩm, bà ta nói: chú em đi tìm anh thì đừng đi quá cầu Đông. Thần hỏi vì sao. Bà ta nói: bên này cầu, ai lấy của chú thì chú kêu quan, quan bắt nó. Bên kia cầu, chú kêu ai."
"Rồi ngươi qua cầu."
"Bẩm, thần qua."
Ngô Xương Xí không cười. Ông nhìn cái thẻ tre đang thành hình dưới mũi dao Đàm Kỳ và nghĩ: ba mươi tám ngày. Hắn có thể nói dối ta ba mươi tám ngày và ta không có cách nào biết. Ta phải trả cho hắn cái gì để hắn đừng nói dối, mà ta thì chỉ có cơm nóng và một chén rượu.
"Qua cầu Đông thì đến đâu."
"Bẩm, đến vùng người ta gọi là Tây Phù Liệt. Chủ ở đấy tên Nguyễn Siêu. Thần không vào trong, thần đi vòng, vì ngoài trại có lính giữ và họ đánh một người trước mặt thần."
"Trại xây bằng gì," Trịnh Cẩn hỏi.
"Bẩm, gỗ với tre. Hào thì có, không sâu. Cọc thì mới, nhựa còn chảy ở đầu cọc."
"Không có tường đất?"
"Bẩm, không có ạ. Thần đi hết mặt tây, không thấy chỗ nào có đất."
Trịnh Cẩn không nói thêm. Nhưng ông ta nhìn Đàm Kỳ, và Đàm Kỳ khắc thêm một nét vào cái thẻ thứ hai.
"Từ đấy lên nữa," Bột nói, "thì hết chỗ đi thẳng."
"Nghĩa là sao."
"Bẩm, nghĩa là đi đâu cũng phải trả. Thần đếm được: từ Tây Phù Liệt lên Tiên Du, ba trạm. Từ Tiên Du sang Siêu Loại, hai trạm, mà hai trạm ấy của hai chủ khác nhau, cách nhau chưa đầy nửa buổi đi bộ."
"Ngươi lấy đâu ra cái để trả."
"Bẩm, thần gánh thuê. Đến trạm thì thần là phu của người ta, phu thì không phải trả, chủ hàng trả."
Ngô Xương Xí nhìn hắn. "Ai dạy ngươi cái ấy."
"Bẩm, không ai dạy. Thần hết gạo ngày thứ chín."
"Tiên Du của ai."
"Bẩm, của Nguyễn Thủ Tiệp. Người ta gọi ông ấy là Vũ Ninh Vương.† Ở đấy có hội vật, thần xem một buổi. Người thắng được một con trâu, và người thắng ấy hôm sau đã mặc áo lính."
"Siêu Loại."
"Bẩm, của Lý Khuê. Đất ấy nhiều chùa, thưa Điện hạ, nhiều đến mức thần đi nửa ngày qua bốn cái. Thần ngủ nhờ hai đêm ở chùa. Sư không hỏi thần từ đâu tới, nhưng sáng ra thì có người khác đến hỏi."
"Ai hỏi."
"Bẩm, người mặc áo thường. Hắn hỏi thần đường từ Ái Châu ra mấy ngày, mùa này nước sông thế nào, và trong Ái Châu gạo bao nhiêu một đấu."
"Ngươi trả lời?"
"Bẩm, thần trả lời. Ba câu ấy ai đi đường cũng biết, thần không nói thì hắn hỏi người khác, mà thần không nói thì hắn nhớ mặt thần."
Đàm Kỳ ngừng khắc và nhìn hắn một cái. Ngô Xương Xí bắt được cái nhìn ấy, và ông ghi nó lại trong đầu, ở chỗ ông để những thứ sẽ dùng sau.
"Tế Giang," Bột nói. "Của Lã Đường. Đấy là chỗ no nhất thần đi qua."
"No thế nào."
"Bẩm, chợ họp cả ngày. Kho thóc để dọc bờ sông, không phải một kho lớn mà nhiều kho nhỏ, cứ cách nhau chừng một tầm tên. Thần hỏi một người khuân vác vì sao không dồn một chỗ cho dễ coi, hắn bảo dồn một chỗ thì cháy một lần là hết."
Trịnh Cẩn khẽ nhúc nhích. "Người ấy nói câu ấy như thể nghe quen."
"Bẩm tướng quân, hắn nói như thể đã nói nhiều lần rồi ạ."
"Đằng Châu," Ngô Xương Xí nói.
"Bẩm, Đằng Châu là của Phạm tướng quân, người ta gọi là Phạm Bạch Hổ. Thần vào chợ Đằng Châu ngày phiên. Ở đấy thần thấy một việc lạ."
"Việc gì."
"Bẩm, có bà bán cá cãi nhau với một người mặc áo có phù hiệu. Cãi to, giữa chợ, về chuyện cân. Người mặc áo bỏ đi trước." Bột dừng lại. "Thần đi mười bảy vùng, thưa Điện hạ. Chỉ ở đấy thần thấy dân cãi lính mà lính đi trước."
Ngô Xương Xí đặt hai tay lên mặt bàn.
"Bố Hải Khẩu," ông nói.
"Bẩm, thần không vào được. Cửa biển ấy có ba lần xét. Thần đứng ngoài bến nửa ngày, đếm thuyền. Trong nửa ngày có mười chín thuyền vào, mười một thuyền ra. Thuyền vào thì nặng, thuyền ra thì nhẹ hơn."
"Ngươi đếm được cả nặng nhẹ?"
"Bẩm, thần nhìn mực nước ở mạn thuyền ạ."
Đàm Kỳ đặt dao xuống. "Điện hạ. Thần xin nói."
"Nói."
"Bẩm, mười chín vào mười một ra, mà thuyền vào nặng hơn. Nghĩa là hàng ở lại đấy. Nghĩa là Bố Hải Khẩu không phải chỗ hàng đi qua. Đấy là chỗ hàng dừng, và chỗ nào hàng dừng thì chỗ ấy có kho, có tiền, có người cho vay."
"Chủ ở đấy tên gì," Ngô Xương Xí hỏi Bột, dù ông đã biết.
"Bẩm, Trần Lãm. Người ta gọi là Trần Minh Công.†"
Trời tối. Đàm Kỳ thắp thêm một ngọn nữa và xếp những cái thẻ đã khắc thành một hàng ngang trên chiếu.
"Còn Phong Châu," Ngô Xương Xí nói.
"Bẩm, thần không lên tới. Từ Tế Giang lên đấy còn tám ngày, mà thần hết mùa. Thần chỉ nghe."
"Nghe gì."
"Bẩm, nghe rằng ai chở hàng từ trên xuống đều phải qua chỗ ngã ba ba con sông, và ở đấy có nhà họ Kiều. Người anh tên Kiều Công Hãn, ở Phong Châu. Người em tên Kiều Thuận, ở Hồi Hồ.† Người ta bảo thuế bên ấy nặng hơn mọi nơi, mà không ai đi vòng được, vì vòng thì mất thêm hai chục ngày."
"Còn Đường Lâm."
Bột im một nhịp.
"Bẩm, Đường Lâm là của Ngô Nhật Khánh."
"Ngươi ngại nói cái tên ấy."
"Bẩm, thần ngại. Vì người ta nhắc tên ấy chung với tên Điện hạ."
"Nhắc thế nào."
"Bẩm..." Bột nhìn xuống đôi dép của mình. "Người ta bảo họ Ngô còn hai chỗ. Một chỗ ở Đường Lâm, một chỗ ở trong này."
"Hết chưa."
"Bẩm, chưa hết ạ." Hắn hít vào. "Thần ngồi quán ở bến Tế Giang, có ông lái đò với ông bán chiếu ngồi đếm. Họ đếm bằng ngón tay, đếm cả buổi, cãi nhau vì có người thì họ tính, có người thì họ không tính. Cuối cùng họ chốt là mười hai."
"Mười hai gì."
"Bẩm, mười hai người đang giữ đất. Họ gọi là mười hai sứ quân."
Trong nhà không ai nói.
"Trong mười hai ấy," Ngô Xương Xí nói, "có ta."
"Bẩm." Bột quỳ xuống, lần này không ai bảo hắn quỳ. "Bẩm, có ạ."
"Ta đứng thứ mấy khi họ đếm."
"Bẩm, ông lái đò đếm Điện hạ sau cùng. Không phải vì Điện hạ kém. Vì Bình Kiều xa nhất, ông ấy nhớ ra sau."
Đàm Kỳ khắc nốt cái thẻ cuối. Ông ta đặt nó vào hàng, và hàng thẻ trên chiếu vừa đủ mười hai cái.
Ngô Xương Xí đưa tay ra, chạm vào một cái ở gần cuối hàng, rồi rút tay lại mà không nhấc lên.
Mười hai cái thẻ tre. Cùng một loại tre, chẻ trong cùng một buổi, vót cùng một tay. Cái nào cũng dài bằng nhau, dày bằng nhau, và nằm trên chiếu chúng ngả cùng một màu vàng nhạt dưới đèn.
Ông cúi xuống gần hơn.
Không có cách nào phân biệt cái của ông với mười một cái kia, nếu không đọc chữ khắc trên đó.
CHÚ THÍCH LỊCH SỬ — CHƯƠNG 5
† "Mười hai sứ quân" là cách sử sách gọi giai đoạn cát cứ sau khi Ngô Xương Văn mất (965) cho tới khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất (968). Câu đầu chương là DIỄN THEO ý được chép trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và các bộ sử sau, không phải trích nguyên văn từng chữ. Danh sách mười hai người và địa bàn tương ứng: Kiều Công Hãn (Phong Châu), Kiều Thuận (Hồi Hồ), Nguyễn Khoan (vùng Tam Đái), Nguyễn Siêu (Tây Phù Liệt), Nguyễn Thủ Tiệp (Tiên Du), Lý Khuê (Siêu Loại), Lã Đường (Tế Giang), Phạm Bạch Hổ (Đằng Châu), Trần Lãm (Bố Hải Khẩu), Đỗ Cảnh Thạc (Đỗ Động Giang), Ngô Nhật Khánh (Đường Lâm), Ngô Xương Xí (Bình Kiều).
† Nguyễn Thủ Tiệp tự xưng Vũ Ninh Vương sau khi giết Dương Huy chiếm đất Vũ Ninh. Trần Lãm xưng Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu — cả hai đều khớp sử liệu.
‡ Thứ tự và cách đếm "mười hai" không hoàn toàn thống nhất giữa các nguồn: một số nhân vật như Lã Xử Bình, Kiều Tri Hựu, Dương Huy tuy có thực lực nhưng không được xếp vào danh sách chính thức. Cảnh hai người dân ngồi đếm và cãi nhau vì "có người thì tính, có người thì không" trong chương là cách dựng lại tình trạng tranh cãi ấy.
◆ Toàn bộ hành trình của người lính trạm tên Bột là hư cấu, cũng như bà chủ quán ở Đỗ Động Giang, người khuân vác Tế Giang, bà bán cá Đằng Châu. Các chi tiết định lượng (số trạm thu, số thuyền ra vào Bố Hải Khẩu, kho thóc Tế Giang đặt cách nhau một tầm tên) là dựng cho truyện, không phải số liệu sử. Chi tiết trại Tây Phù Liệt làm bằng gỗ tre không có tường đất là cài đặt có chủ đích cho sự kiện hỏa công về sau (967), sự kiện có ghi trong sử nhưng chi tiết cụ thể phần lớn đến từ gia phả dòng họ ◆.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 6 →