"Năm Canh Tuất, Xương Văn cùng hai tướng Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc đem quân quay về, truất Dương Tam Kha xuống làm Chương Dương Công." — Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Kỷ Nhà Ngô, năm 950 (diễn theo, xem chú thích) †
Ba mươi con ngựa dừng ngoài cổng lúc chạng vạng, và không con nào có người xuống lưng cho tới khi trong sân có tiếng người của Bình Kiều đi ra.
Ngô Xương Xí đứng ở thềm nhà giữa. Ông đã kịp thay áo, kịp buộc lại tóc, kịp bảo Đàm Kỳ đốt đèn ở cả hai gian dù đèn một gian là đủ. Ông làm những việc ấy trong chừng bốn mươi nhịp thở, và ông làm đúng thứ tự, vì thứ tự là thứ duy nhất trong buổi tối này ông còn giữ được toàn quyền.
Người xuống ngựa đầu tiên là một ông già to ngang, vai dày, cổ tay to bằng bắp chân người thường. Ông ta bước hơi lệch về bên phải, một cái lệch cũ, cái lệch của người từng bị gãy chỗ nào đó rồi lành không thẳng.
"Bẩm Điện hạ. Thần là Đỗ Cảnh Thạc, giữ đất Đỗ Động Giang."
"Ta biết ông."
"Bẩm, Điện hạ chưa gặp thần."
"Ta nghe tiếng ông năm Canh Tuất, ở phủ Thiên Sách. Lúc quân về, người ta nói tên ông với tên Dương Cát Lợi trong cùng một câu, và nói suốt ba ngày."†
Đỗ Cảnh Thạc chắp tay, cúi. Trong sân, ba mươi người của ông ta đứng cạnh ngựa, không ai nói.
"Ông ăn cơm chưa."
"Bẩm, chưa."
"Nhà bếp còn cơm nguội. Ta không dám dọn cỗ, vì dọn cỗ thì phải mất một canh giờ, mà ta đoán ông không ở lại được một canh giờ."
"Bẩm," Đỗ Cảnh Thạc nói, "Điện hạ đoán đúng."
Hai bát cơm nguội, một đĩa cá kho mặn, một bát nước rau. Đàm Kỳ đặt xuống rồi lui ra ngoài cửa, đứng đấy, không vào.
Đỗ Cảnh Thạc cầm đũa lên trước khi ngồi vững, và ăn.
"Ông đi từ Đỗ Động Giang xuống đây mấy ngày," Ngô Xương Xí hỏi.
"Bẩm, chín ngày. Đi thuyền đến cửa Hới, từ cửa Hới đi ngựa."
"Ông về nhà rồi mới đi."
"Bẩm, phải. Thần về, xem lại lũy, cắt đặt người, rồi mới đi."
"Vậy ông đi xuống đây không phải vì gấp."
"Bẩm, không gấp." Đỗ Cảnh Thạc và một miếng, nhai, nuốt. "Thần xuống đây để nhìn mặt Điện hạ."
"Nhìn xong thì sao."
"Thì thần về."
Ngô Xương Xí đặt tay lên mép bàn. Bát cơm của ông ở trước mặt, đôi đũa gác ngang miệng bát, hai đầu đũa bằng nhau.
"Ông ở Cổ Loa," ông nói.
"Bẩm, thần ở."
"Bao lâu."
"Mười một ngày. Từ hôm nghe tin Nam Tấn Vương băng đến hôm thần đem quân đi."
"Ông làm gì trong mười một ngày ấy."
"Bẩm, bảy ngày đầu thần giữ cửa nam và đợi. Bốn ngày sau thần thu quân."
"Đợi ai."
Đỗ Cảnh Thạc đặt đũa xuống, lần đầu từ lúc ngồi.
"Bẩm Điện hạ. Thần đợi xem có người họ Ngô nào đến cửa thành không."
Đèn trong gian cháy đều. Ngoài sân có tiếng một con ngựa dậm chân, rồi thôi.
"Ta ở cách đấy mười ngày đường," Ngô Xương Xí nói.
"Bẩm, thần biết."
"Ông không sai người báo cho ta."
"Bẩm, thần không sai."
"Vì sao."
"Vì nếu phải có người của thần chạy mười ngày đường để nói cho Điện hạ biết rằng chú Điện hạ đã chết và cái ghế đang trống," Đỗ Cảnh Thạc nói, "thì Điện hạ có ngồi vào đấy cũng không giữ được đến mùa gặt."
Ngô Xương Xí không nói gì trong khoảng thời gian đủ để ngoài kia con ngựa dậm chân thêm hai lần.
"Ta hiểu."
"Bẩm, thần nói nặng."
"Ông nói đúng. Nói đúng thì không cần xin lỗi." Ông đẩy đĩa cá kho sang phía Đỗ Cảnh Thạc, một đoạn ngắn, đủ để thấy là cố ý. "Ông ăn tiếp đi."
"Ông trung thành với nhà Ngô," Ngô Xương Xí nói. "Cả thiên hạ nói thế. Ta muốn hỏi ông một câu mà ta chưa hỏi ai."
"Bẩm, Điện hạ hỏi."
"Nhà Ngô là gì."
Đỗ Cảnh Thạc nhai chậm lại. "Bẩm, Điện hạ hỏi lại lần nữa."
"Nhà Ngô, trong bụng ông, là gì. Là mấy người còn sống mang họ Ngô. Hay là cái phép tắc mà ông nội ta dựng lên."
"Bẩm, là cái sau."
"Ông chắc."
"Bẩm, thần chắc. Vì nếu là cái trước thì năm Canh Tuất thần đã không phải làm cái việc thần đã làm."
"Nói rõ."
"Bẩm. Dương Tam Kha cũng là người trong nhà, là em vợ Tiên vương, là cậu của Nam Tấn Vương." Đỗ Cảnh Thạc gác đũa lên bát, ngay ngắn. "Ông ta cướp ngôi của cháu. Thần và Dương Cát Lợi quay quân về không phải vì thần thương Nam Tấn Vương, thần chưa từng nói với ngài quá mười câu trước năm ấy. Thần quay quân vì có kẻ lấy cái không phải của mình. Thần giữ cái phép, không giữ người."
"Vậy hôm nay cái phép ấy nói gì với ông."
"Bẩm, nó nói rằng người ngồi ở Cổ Loa phải là người của dòng chính."
"Đấy là ta."
"Bẩm, phải."
"Vậy ông đem bao nhiêu quân theo ta?"
Đỗ Cảnh Thạc nhìn thẳng vào ông. Mắt ông ta đục ở rìa, kiểu mắt người ngoài năm mươi, nhưng không né.
"Bẩm. Nếu Điện hạ ngồi vào Cổ Loa, thần sẽ đến chầu."
"Ta hỏi quân."
"Bẩm, thần trả lời rồi."
Ngô Xương Xí để hai tay xuống đùi, dưới mặt bàn, chỗ không ai nhìn thấy.
"Đỗ Động Giang một năm thu được bao nhiêu thạch."
"Bẩm, thần không mang sổ theo."
"Ta không hỏi sổ. Ta hỏi ông. Ông giữ đất ấy mười mấy năm, ông biết con số ấy như biết tên con mình."
"Bẩm, thần không mang sổ theo," Đỗ Cảnh Thạc nói lại, y hệt, không thêm không bớt một chữ.
Đàm Kỳ đứng ngoài cửa. Ngô Xương Xí biết ông ta đang nghe, và biết ông ta vừa nghe được câu quan trọng nhất của cả buổi tối.
Người trung thành nhất trong thiên hạ, ông nghĩ, cũng không mở sổ cho ta xem. Không phải vì ông ta phản. Vì mở sổ ra thì ta biết ông ta gánh được bao nhiêu, và biết rồi thì ta sẽ xin.
"Được," ông nói. "Ta không hỏi nữa."
"Bẩm Điện hạ," Đỗ Cảnh Thạc nói sau một lúc. "Thần hỏi lại một câu."
"Ông hỏi."
"Điện hạ có định lên Cổ Loa không."
"Ông muốn ta nói thật hay nói cho phải phép."
"Thần đi chín ngày đường không phải để nghe cái phải phép."
"Vậy thì không."
Đỗ Cảnh Thạc gật đầu, một cái, chậm.
"Ông không ngạc nhiên."
"Không."
"Ông cũng không trách."
"Thần trách chứ." Ông ta cầm đũa lên lại. "Thần trách được ba ngày. Ngày thứ tư thần ngồi tính, và tính xong thì thần hết trách."
"Tính ra sao."
"Bẩm, ba huyện quanh Cổ Loa năm ngoái nộp chưa được hai nghìn thạch, mà trong hai nghìn ấy có thóc lép."
Ngô Xương Xí ngẩng lên.
"Điện hạ tưởng chỉ có quan thư lại của Điện hạ biết đếm à," Đỗ Cảnh Thạc nói. "Thần cũng đếm. Thần đếm xong thì thần thu quân về, đúng ngày thứ mười một."
"Vậy ông và ta đếm ra cùng một con số."
"Bẩm, cùng một con số."
"Khác nhau chỗ nào."
"Khác ở chỗ thần không mang họ Ngô." Giọng ông ta không cao lên, chỉ đặc lại. "Thần đếm xong thì thần về nhà, và không ai gọi thần là kẻ bỏ nhà. Điện hạ đếm xong thì Điện hạ vẫn phải sống với cái tên của mình. Đấy là phần Điện hạ chịu một mình, thần không gánh hộ được."
"Ông nói như thể ông thương ta."
"Ta không thương Điện hạ," Đỗ Cảnh Thạc nói.
Chữ ta rơi xuống giữa bàn.
Ngô Xương Xí nghe nó rơi, và ông không nhặt nó lên. Ông ngồi yên, hai tay dưới bàn, và đợi xem ông già kia có tự sửa không.
Ông ta không sửa.
"Ta không thương Điện hạ," Đỗ Cảnh Thạc nói tiếp, chậm rãi, "vì ta còn phải về giữ một cái lũy có bốn nghìn người trong đó, và trong bốn nghìn người ấy có một nghìn hai trăm là đàn bà con trẻ. Ta thương ai thì ta phải trả bằng người của ta. Ta không đủ để thương."
"Vậy ông xuống đây làm gì. Thật."
"Để nói với Điện hạ đúng một câu, mà câu ấy phải nói trước mặt, không nhờ người khác nói hộ được."
"Nói."
"Ta sẽ không đến nữa."
Đèn cháy. Cá kho trong đĩa còn hai miếng.
"Ta không đánh Bình Kiều," Đỗ Cảnh Thạc nói. "Ta không mượn đường qua đất Điện hạ. Ai đánh Điện hạ, ta cũng không góp một tay nào. Nhưng ta không đến. Điện hạ đừng đợi ta, đừng để tên ta trong bất cứ cái sổ nào của Điện hạ, và đừng viết thư cho ta để hỏi những điều mà ta vừa trả lời rồi."
"Ông nói xong chưa."
"Bẩm, chưa hết. Còn một điều." Ông ta húp nốt bát nước rau. "Kẻ giết Điện hạ sẽ không phải kẻ mạnh nhất thiên hạ. Sẽ là kẻ gần nhất. Ai gần thì kẻ ấy đói cùng lúc với Điện hạ, và hai người đói cạnh nhau thì bao giờ cũng có một người ăn người kia."
Đỗ Cảnh Thạc ăn hết bát cơm. Ăn xong ông ta vét lòng bát bằng cạnh đũa, hai vòng, rồi đặt đũa xuống song song.
Bát của Ngô Xương Xí còn nguyên. Đôi đũa vẫn gác ngang miệng bát, hai đầu vẫn bằng nhau.
"Điện hạ không ăn."
"Ta ăn rồi."
"Bẩm, không."
Ngô Xương Xí không đáp.
"Thần ăn cơm nguội ba mươi năm," Đỗ Cảnh Thạc nói, và chữ thần đã quay lại, nhưng quay lại muộn quá nên nó không đứng vào chỗ cũ được nữa. "Cơm nguội không phải cái khổ. Cái khổ là ngồi trước bát cơm mà không dám ăn, vì sợ người ta trông thấy mình đói."
"Ông xong thì ta cho người dắt ngựa."
"Bẩm." Đỗ Cảnh Thạc đứng lên, và khi đứng ông ta phải chống một tay xuống bàn, cái chân lệch không chịu ngay. "Điện hạ có học quyền không."
"Có."
"Bài gì."
"Đường Long Bát Thức."
"Được mấy thức."
"Năm."
Đỗ Cảnh Thạc đứng thẳng lên hẳn. Ông ta nhìn hai bàn tay Ngô Xương Xí, không nhìn mặt.
"Thần học vật ở Kinh Bắc từ mười hai tuổi. Sau có người dạy thêm mấy thế Đường Môn, học ba năm, không đến nơi đến chốn. Thần đánh nhau bằng cái không đến nơi ấy suốt ba mươi năm, và thần chưa chết."
"Ông muốn nói với ta điều gì."
"Bẩm, thần không muốn nói gì cả. Thần chỉ trả lời câu Điện hạ chưa hỏi."
Ông ta chắp tay, cúi, lui ra. Ngoài sân, ba mươi con ngựa quay đầu gần như cùng một lúc, và tiếng móng trên gạch nghe thưa dần cho tới lúc chỉ còn tiếng chó sủa ở xóm dưới.
Ngô Xương Xí ngồi lại với hai cái bát.
Bát của ông đầy, cơm đã se mặt, hạt trên cùng bắt đầu cứng lại thành một lớp mỏng.
Bát kia sạch. Sạch đến mức trong ánh đèn, lòng bát trắng đều, không một hạt dính, không một vệt, trông như chưa từng có ai ăn.
Ông với tay cầm cái bát ấy lên.
Nó nhẹ hơn bát của ông.
CHÚ THÍCH LỊCH SỬ — CHƯƠNG 4
† Năm 950, Đỗ Cảnh Thạc cùng Dương Cát Lợi giúp Ngô Xương Văn lật Dương Tam Kha. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép Dương Tam Kha (em vợ Ngô Quyền, cậu của Ngô Xương Văn) cướp ngôi sau khi Ngô Quyền mất năm 944; năm 950 Dương Tam Kha sai Ngô Xương Văn cùng hai tướng Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc đi đánh vùng Thái Bình, Ngô Xương Văn thuyết phục hai tướng quay quân về kinh, truất Dương Tam Kha xuống làm Chương Dương Công. Câu ở đầu chương là DIỄN THEO nội dung này, cô đọng lại, không phải trích nguyên văn từng chữ.
† Đỗ Cảnh Thạc là quan lại cũ của nhà Ngô, sau cát cứ ở Đỗ Động Giang (vùng Thanh Oai, Hà Nội ngày nay, tả ngạn sông Đáy), xây thành lũy kiên cố, là sứ quân kháng cự lâu nhất trong chiến dịch dẹp loạn về sau.
‡ Việc Đỗ Cảnh Thạc có mặt ở Cổ Loa sau khi Ngô Xương Văn chết được một số nguồn ghi nhận cùng với Lã Xử Bình, Kiều Tri Hựu, Dương Huy; chi tiết ông ở lại bao lâu rồi rút về đất mình thì không nguồn nào chép cụ thể. Con số "mười một ngày" trong chương là hư cấu.
◆ Toàn bộ cuộc gặp giữa Ngô Xương Xí và Đỗ Cảnh Thạc tại Bình Kiều là hư cấu văn học — sử liệu không ghi hai người này từng gặp nhau. Mọi lời thoại, con số về Đỗ Động Giang, và chi tiết ông học vật Kinh Bắc pha Đường Môn (theo hệ thống võ học của tác phẩm) đều là hư cấu.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 5 →