"Nam Tấn Vương mất, các hùng trưởng đua nhau nổi dậy chiếm cứ quận ấp để tự giữ." — Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Kỷ Nhà Ngô (diễn theo, xem chú thích) †
Người mang tin thứ hai đến Bình Kiều không cưỡi ngựa. Ông ta đi thuyền, và ông ta đến để bán vải.
"Bẩm Điện hạ, ngoài bến có lái buôn Tế Giang," Đàm Kỳ nói. "Tên là Từ Hoài. Năm ngoái ông ta bán cho ta hai trăm tấm vải thô, giá phải chăng, không cân điêu.◆ Ông ta xin vào chào."
"Cho vào."
"Bẩm, ông ta xin vào chào, nhưng thần nghĩ ông ta muốn nói chuyện khác."
"Thì cho vào."
Từ Hoài chừng năm mươi tuổi, người khô, da mặt sạm không đều, sạm nhiều ở nửa bên trái. Ông ta chắp tay đúng cách, cúi đúng độ, và ngồi xuống mép chiếu chứ không ngồi vào giữa.
"Bẩm Điện hạ, năm nay hàng của tiểu nhân có the mỏng, có vải nâu, có muối Ái Châu."
"Đàm Kỳ coi việc mua bán."
"Bẩm, tiểu nhân biết. Tiểu nhân đã trình với quan thư lại rồi."
"Vậy ngươi vào đây làm gì."
Từ Hoài ngẩng lên, rất nhanh, rồi lại cúi. "Bẩm, tiểu nhân vừa đi qua Cổ Loa."
Trong nhà giữa có bốn người: Ngô Xương Xí, Đàm Kỳ, một người hầu đứng ở cột, và ông ta. Không ai động đậy.
"Nói."
"Bẩm, ngày mười bảy tiểu nhân qua cửa nam. Ngày mười tám tiểu nhân ở lại trong thành, vì thuyền phải đợi nước. Trong thành có người ngồi ở nhà lớn, tên là Lã Xử Bình."
"Ông ta xưng gì."
"Bẩm, không xưng gì cả."
Ngô Xương Xí không hỏi lại.
"Bẩm, ý tiểu nhân là..." Từ Hoài dừng, tìm chữ, rồi bỏ luôn việc tìm. "Không có lễ, không có cáo, không có yết thị dán ở cửa. Người ta chỉ ngồi xuống. Sáng ngày mười tám tiểu nhân thấy quan lại vào nhà lớn trình việc như mọi ngày, chỉ khác là trình với ông ta."
"Còn ai."
"Bẩm, còn ba người nữa cùng tranh. Kiều Tri Hựu ở cửa bắc, quân đóng ngoài lũy. Dương Huy ở phía đông.† Và..."
"Và."
"Bẩm, và Đỗ Cảnh Thạc. Nhưng ông ấy đi rồi, đi trước tiểu nhân bốn ngày, đem quân về Đỗ Động Giang."
Đàm Kỳ đang ghi trên thẻ tre. Cái mũi dao khắc của ông ta dừng lại giữa một nét.
Ngô Xương Xí nhìn cái nét dở ấy. Ông không hỏi Đỗ Cảnh Thạc đi vì cớ gì. Ông không hỏi Lã Xử Bình bao nhiêu quân. Ông không hỏi Kiều Tri Hựu là con cháu nhà nào ở Phong Châu.
"Ngươi ở trong thành một đêm," ông nói. "Ngươi ngủ ở đâu."
"Bẩm, ở nhà trọ trong phố cửa nam."
"Cơm giá bao nhiêu."
Từ Hoài chớp mắt. "Bẩm... một bữa cơm với cá kho, năm đồng. Năm ngoái ba đồng."
"Muối."
"Bẩm, muối lên gấp rưỡi. Sắt lên gấp đôi. Vải thì xuống, vì không ai may áo mới."
"Thóc."
"Bẩm, thóc ở bến Cổ Loa mười hai đồng một đấu. Trong này sáu."
"Gấp đôi."
"Bẩm, gấp đôi. Mà đấy là giá người ta hỏi, không phải giá bán được. Tiểu nhân đứng ở bến nửa buổi, không thấy ai đong quá một đấu. Người ta mua từng lon."
"Vì sao chỉ mua từng lon."
"Bẩm, vì mua nhiều thì phải khiêng về nhà, mà khiêng về nhà thì hàng xóm trông thấy."
Ngô Xương Xí để câu ấy đi qua, rồi hỏi tiếp.
"Kho trong thành có mở không."
"Bẩm, mở một lần, hôm mười sáu. Người ta phát cho lính, không phát cho dân."
"Phát mấy ngày."
"Bẩm, một ngày. Hôm sau đóng."
"Vì sao đóng."
"Bẩm, tiểu nhân không biết. Người khuân vác ở đấy bảo tiểu nhân: phát hai ngày thì ngày thứ ba người ta hỏi ngày thứ tư."
"Vì sao sắt lên gấp đôi."
"Bẩm, vì bốn người kia cùng mua." Từ Hoài nói câu ấy bình thản, như nói về mưa. "Ai sắp đánh nhau thì mua sắt. Tiểu nhân buôn hai mươi năm, tiểu nhân không cần nghe ai nói câu nào, tiểu nhân chỉ cần nhìn giá sắt."
Ngoài sân, người ta khiêng vải từ bến lên. Tiếng đòn gánh cọ vào vai, tiếng chân đi trên gạch ướt.
"Đường từ Cổ Loa vào đây," Ngô Xương Xí nói, "có mấy trạm thu."
"Bẩm, năm chỗ. Năm ngoái ba chỗ."
"Chỗ nào mới."
"Bẩm, một chỗ ở khúc sông dưới Trường Châu, một chỗ ở bến đò Bố Vệ. Cả hai chỗ đều không có yết thị, chỉ có người chặn."
"Ngươi trả bao nhiêu."
"Bẩm, một phần mười hàng, mỗi chỗ. Trả bằng vải thì họ lấy vải, trả bằng muối thì họ lấy muối. Họ không lấy tiền."
"Vì sao."
"Bẩm, vì tiền không ăn được."
Đàm Kỳ ngẩng lên. Đấy là câu ông ta muốn nói cả tháng nay mà chưa nói được ra bằng lời của mình.
"Quan thư lại," Từ Hoài quay sang, giọng đổi hẳn, giọng của người trong nghề nói với người trong nghề. "Ông ghi làm gì cho mệt. Tôi nói ông nghe một chuyện dễ nhớ hơn. Năm ngoái đi từ Tế Giang vào đây, tôi mất mười một ngày, trả ba chỗ. Năm nay mất mười bốn ngày, trả năm chỗ. Sang năm nếu là bảy chỗ thì tôi không đi nữa. Tôi bán quanh nhà."
"Rồi vải của Bình Kiều lấy ở đâu," Đàm Kỳ nói.
"Bẩm quan, đấy là việc của quan. Việc của tôi là đếm."
Ngô Xương Xí đứng dậy, đi ra cửa, đứng ở bậu cửa nhìn xuống sân.
Sau lưng ông, Đàm Kỳ tiếp tục hỏi. Bao nhiêu thuyền còn chạy tuyến Tế Giang. Bao nhiêu nhà buôn bỏ đường sông sang đường bộ. Giá thóc ở bến Cổ Loa. Từ Hoài trả lời từng câu, đủ, không thêm, và mỗi câu trả lời của ông ta có một con số.
Ông không quay lại. Nắng đã lên cao, sân gạch khô thành từng mảng loang, mảng khô sáng, mảng còn ẩm sẫm, và ranh giới giữa hai mảng cứ lùi dần trong lúc ông đứng đó.
Bốn ngày, hoặc ba ngày. Cửa đông mở. Người ta chỉ ngồi xuống.
Ông nghĩ về cái nhà lớn ấy. Ông đã vào đó ba lần trong đời, lần cuối năm hai mươi hai tuổi, và ông còn nhớ chỗ ván sàn phía tây có một chỗ hơi vênh, ai đi qua cũng phải bước hụt nửa bước nếu không biết trước. Chú ông biết chỗ ấy. Chú ông đi qua đó nghìn lần, chân tự tránh.
Bây giờ có một người khác đang đi qua chỗ ván vênh ấy mỗi ngày, và trong vòng một tháng thì chân người ấy cũng sẽ tự tránh.
"Từ Hoài," ông gọi, không quay đầu.
"Bẩm Điện hạ."
"Trong bốn ngày ngươi ở trong thành và trên đường, có ai hỏi ngươi về Bình Kiều không?"
Trong nhà im. Đàm Kỳ ngừng khắc.
"Bẩm," Từ Hoài nói. "Không ai hỏi."
"Không một người nào."
"Bẩm, ở bến có người hỏi tiểu nhân đường vào Ái Châu mấy ngày. Hỏi đường, không hỏi Điện hạ."
Ngô Xương Xí gật đầu một cái, rất nhỏ, mà người trong nhà không nhìn thấy vì ông vẫn quay lưng.
"Đàm Kỳ. Mua của ông ấy hai trăm tấm vải nâu, và trả đủ giá, không mặc cả."
"Bẩm, thần tuân."
"Từ Hoài, ngươi đi đường về giữ mình. Chỗ bến đò Bố Vệ, nếu họ đòi hai phần mười thì ngươi cứ trả, đừng cãi. Cãi ở chỗ ấy không đáng."
"Bẩm, tiểu nhân đội ơn."
Chiều, ông ra kho.
Ba dãy, mỗi dãy chín gian. Ông đi từ đầu dãy phía đông, tay chạm vào từng vách bồ, nghe. Thóc đầy thì vách căng. Ông đi hết chín gian dãy đông, sang dãy giữa, đến gian thứ bảy thì dừng, vì gian thứ bảy vẫn là gian tháng trước.
Đàm Kỳ đứng ngoài cửa kho, cách một bước, tay cầm bó thẻ.
"Bẩm Điện hạ. Thần xin nói một câu ngoài phận sự."
"Nói."
"Bẩm, sứ. Đáng lẽ phải có sứ. Người ta ngồi vào nhà lớn Cổ Loa thì việc thứ nhất là sai người đi báo các nơi, để các nơi biết mà tính. Ngay cả khi báo để dọa, cũng phải báo."
"Ta biết."
"Bẩm, mà không có sứ nào đến Bình Kiều."
"Ta biết."
Đàm Kỳ đứng thêm một lúc rồi lui.
Ngô Xương Xí để tay trên vách bồ gian thứ bảy. Vách tre đan, mặt ngoài nhẵn vì tay người sờ nhiều đời, và bên trong có tiếng thóc chảy rất chậm khi ông ấn nhẹ, tiếng rỗng, đúng như tháng trước.
Ông đứng đó cho đến khi trong kho tối hẳn. Ngoài cổng, con đường cái chạy về phía bắc vẫn trắng và trống, không có bụi nào bốc lên, không có tiếng ngựa nào, và ông đứng đủ lâu để biết chắc suốt buổi chiều ấy sẽ không có.
Không có sứ, thì cũng không có cả người đến để đòi ông quy phục. Cả hai việc ấy đều cần người ta nhớ tới ông trước đã.
CHÚ THÍCH LỊCH SỬ — CHƯƠNG 3
† Câu ở đầu chương là cách diễn đạt cô đọng ý được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép về tình hình sau khi Nam Tấn Vương (Ngô Xương Văn) mất năm 965: các hào trưởng địa phương nổi dậy chiếm giữ quận ấp, đất nước không còn chủ. Đây là DIỄN THEO nội dung sử liệu, không phải trích nguyên văn từng chữ.
‡ Lã Xử Bình chiếm Cổ Loa. Các nguồn ghi nhận sau khi Ngô Xương Văn chết, ở Cổ Loa có mấy người cùng tranh quyền, thường được kể tên gồm Lã Xử Bình, Kiều Tri Hựu, Dương Huy và Đỗ Cảnh Thạc. Chi tiết ai chiếm được đến đâu, trong bao lâu, thì các nguồn không thống nhất. Lã Xử Bình KHÔNG nằm trong danh sách mười hai sứ quân chính thức — cần phân biệt rõ với Lã Đường ở Tế Giang, người có trong danh sách. Dương Huy về sau bị Nguyễn Thủ Tiệp giết để chiếm Vũ Ninh.
‡ Việc "không có sứ báo" và toàn bộ diễn biến trong chương là hư cấu văn học: sử liệu không chép sinh hoạt hành chính giữa Cổ Loa và Bình Kiều giai đoạn này. Điều có cơ sở là hiện tượng nền — quyền lực trung ương tan rã tới mức các thủ lĩnh địa phương không còn coi việc thông báo cho dòng chính nhà Ngô là bắt buộc.
◆ Từ Hoài, lái buôn Tế Giang, là nhân vật hư cấu (cha của Từ Tuyết Nhi, người ghi chép xuất hiện ở các quyển sau). Giá muối, giá sắt, số trạm thu và mọi con số thương mại trong chương là dựng cho truyện, không phải số liệu sử.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 4 →