🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: [email protected]

"Kho thóc không biết nói dối. Người giữ kho thì biết."

— Lời truyền trong dân, không rõ nguồn ◆

Sáng hôm sau nước mưa còn đọng trong khe gạch sân trước, và bốn người vào nhà giữa khi mặt trời chưa lên khỏi rặng tre.

Ánh sáng qua cửa gỗ chia mặt bàn thành những vệt song song. Ngô Xương Xí ngồi ở đầu bàn phía tối. Ba người kia ngồi trong sáng, nên mỗi lần ai nhúc nhích, một vệt sáng lại chạy qua mặt người ấy rồi trả họ về chỗ cũ.

"Bẩm Điện hạ, đêm qua có thêm hai người từ phía bắc xuống," Đàm Kỳ nói. "Một người là lính coi kho ở Trường Châu. Một người bán thuốc."

"Họ nói gì."

"Bẩm, người coi kho nói Cổ Loa đã mở cửa đông ba ngày nay, ai vào cũng được. Người bán thuốc nói không phải ba ngày, là bốn."

"Ngươi tin ai."

"Bẩm, thần tin cả hai. Người ta chỉ nói dối về việc mình có phần trong đó. Cửa thành mở ngày nào thì không ai có phần."

Người thứ tư ở bàn là Đào Cam, đội trưởng kỵ, hai mươi sáu tuổi, tay để trên nút thắt lưng từ lúc ngồi xuống.◆ Anh ta nói mà không đợi được hỏi.

"Bẩm Điện hạ, ba trăm kỵ. Mười hai ngày là tới nơi. Điện hạ vào cửa đông, cắm cờ họ Ngô lên chòi bắc, thiên hạ nhìn thấy cái cờ ấy trước khi nhìn thấy quân của Điện hạ đông hay ít."

Ngô Xương Xí không trả lời anh ta ngay. Ông nhìn cái vệt sáng đang nằm ngang mặt bàn, chỗ trước mặt Đào Cam, và đợi cho đến khi trong nhà không còn ai định nói thêm câu nào.

"Cắm cờ xong thì ngươi làm gì tiếp."

"Bẩm, giữ thành."

"Giữ bằng gì."

"Bẩm, bằng ba trăm kỵ và những người sẽ theo về."

"Những người sẽ theo về," Ngô Xương Xí nhắc lại. "Đàm Kỳ. Nói cho đội trưởng nghe về ba huyện quanh Cổ Loa."

Đàm Kỳ đặt bó thẻ tre xuống bàn. Ông ta không mở bó ra.

"Bẩm, ba huyện ấy năm Quý Hợi nộp bảy nghìn thạch. Năm Giáp Tý nộp bốn nghìn. Năm ngoái nộp một nghìn chín trăm, mà trong một nghìn chín trăm ấy có bốn trăm là thóc lép, quan coi kho nhận vì không nhận thì không có gì để nhận."

"Vì sao xuống."

"Bẩm, vì dân bỏ ruộng. Đi Đỗ Động Giang, đi Phong Châu, đi Tế Giang. Chỗ nào không bắt phu thì họ đi chỗ ấy. Ruộng bỏ hoang một mùa thì cỏ ăn, hai mùa thì đất chai, ba mùa thì có gọi người về cũng không cấy được nữa."

Đào Cam bỏ tay khỏi nút thắt lưng. "Vậy chở thóc từ đây ra."

"Bẩm đội trưởng, tôi cũng nghĩ thế. Rồi tôi ngồi tính."

"Tính ra sao."

"Một phu gánh được năm đấu. Đường ra Cổ Loa mười ngày, mà đường ấy có đoạn đi bộ, có đoạn qua đò, đò thì phải trả. Mỗi ngày phu ăn một thăng rưỡi. Đi mười ngày hết mười lăm thăng, về mười ngày hết mười lăm thăng, là ba đấu. Vậy gánh năm đấu đi, đến nơi giao được hai đấu, nếu người ấy còn phải quay về. Nếu không cho họ quay về thì đấy không còn là phu nữa, đấy là lính, mà lính thì phải nuôi cả năm chứ không phải hai mươi ngày."

Trong nhà có tiếng gà ngoài bếp. Vệt sáng trên bàn đã dịch được một khoảng bằng bề ngang bàn tay.

"Nói cho gọn," Ngô Xương Xí nói.

"Bẩm. Muốn Cổ Loa nhận được một nghìn thạch, Bình Kiều phải xuất hai nghìn rưỡi."

"Kho ta có bao nhiêu."

"Bẩm, một nghìn tám trăm."

Đào Cam nhìn Đàm Kỳ, rồi nhìn xuống bàn. Anh ta còn trẻ, và cái trẻ của anh ta nằm ở chỗ anh ta chưa học được cách giấu lúc mình vừa bị đánh trúng.

Ngô Xương Xí biết cái tuổi ấy. Năm mười chín tuổi ông cũng đứng trong một cái nhà giữa như thế này, nghe người ta nói những con số mà ông không hiểu, và ông đã ngồi im vì tưởng ngồi im là kính cẩn. Sau này ông mới biết trong những buổi ấy người ta chỉ nghe kẻ nào hỏi.

"Đội trưởng," ông nói. "Ngươi hỏi tiếp đi."

"Bẩm?"

"Ngươi vừa bị bẻ. Bẻ xong thì phải hỏi tiếp, không phải im."

Đào Cam ngẩng lên. "Bẩm, thần hỏi: nếu không mang thóc ra, thì lấy ngay ở ba huyện ấy. Quân đến thì thóc ra."

"Đấy là câu hỏi đúng," Ngô Xương Xí nói. "Đàm Kỳ, trả lời."

"Bẩm, lấy được. Năm đầu lấy được chừng hai nghìn thạch, vì trong nhà dân vẫn còn thóc giống và thóc ăn giáp hạt. Năm sau lấy được năm trăm. Năm sau nữa thì không còn ai ở đấy để mà lấy."

"Ngươi biết chắc?"

"Bẩm, thần không biết chắc. Nhưng cách đây bốn năm ở Ái Châu người ta đã làm đúng như thế, và thần có cầm cái sổ của huyện ấy trong tay."

Trịnh Cẩn nãy giờ chưa nói câu nào. Ông ta ngồi thẳng, hai bàn tay úp trên đầu gối, và khi ông ta mở miệng thì ba người kia đều quay lại, vì mỗi tháng ông ta chỉ nói chừng ấy lần.

"Bẩm Điện hạ. Thần xin việc khác."

"Nói."

"Trại phía tây còn bốn trăm hai mươi người. Thóc ở trại đủ hai mươi ngày. Thần xin chuyển ba trăm thạch từ kho lớn lên trại, tháng này."

Đàm Kỳ trở tay úp bó thẻ tre xuống. "Bẩm, không được."

"Vì sao không được."

"Bẩm tướng quân, vì thóc lên trại thì thần hết đường vào sổ. Trại ở trên núi, thần không lên được mỗi tháng. Ba trăm thạch lên đấy, tháng sau thần hỏi còn bao nhiêu, người ta nói còn bao nhiêu thì thần ghi bấy nhiêu."

"Ngươi nghi lính của ta ăn cắp."

"Bẩm, thần không nghi ai cả. Thần chỉ nói rằng cái gì thần không đếm được thì thần không ghi được, và cái gì không ghi được thì đến lúc cần, Điện hạ không có để mà tính."

Trịnh Cẩn quay đầu về phía đầu bàn tối. "Bẩm Điện hạ. Cái sổ của ông ấy không đỡ được giáo."

"Cái giáo của tướng quân cũng không mọc ra thóc," Đàm Kỳ nói.

Đấy là lần đầu tiên trong hai năm Ngô Xương Xí nghe Đàm Kỳ cắt lời một võ quan. Ông để yên cho câu ấy nằm giữa bàn một lúc.

Ngoài sân, một người quét gạch. Tiếng chổi tre kéo trên gạch ướt nghe nặng và dính, không giòn như lúc gạch khô.

"Trịnh Cẩn," ông nói. "Bốn trăm hai mươi người của ngươi, có bao nhiêu người đi được xa?"

"Bẩm, đi được mười ngày đường mà đến nơi còn đánh được: chừng hai trăm."

"Còn hai trăm hai mươi người kia?"

"Bẩm, giữ trại thì giữ được. Ra khỏi núi thì họ là dân có giáo."

"Ta hiểu rồi." Ngô Xương Xí đặt tay lên mặt bàn, chỗ gỗ còn nằm trong bóng, lạnh. "Đàm Kỳ. Cho trại phía tây một trăm năm mươi thạch, chia ba lần trong ba tháng. Mỗi lần đưa lên, ngươi cho một người của ngươi đi theo, và người ấy ở lại trại ba ngày rồi về."

"Bẩm, thần tuân."

"Trịnh Cẩn, ngươi cho người của ông ấy ăn cùng lính, ngủ cùng lính, và không ai được hỏi ông ta lên làm gì."

Trịnh Cẩn nhìn thẳng vào ông, như mỗi lần ông ta nói. "Bẩm, thần tuân. Nhưng một trăm năm mươi thạch chia ba lần thì tháng thứ hai trại thiếu."

"Ta biết."

"Bẩm, vậy thần lấy đâu bù."

"Ngươi không bù. Ngươi cho lính ăn ít đi một phần tư từ tháng này, chứ không phải từ tháng thiếu."

Trịnh Cẩn im một nhịp. "Bẩm, lính sẽ hỏi vì sao."

"Thì ngươi nói vì sao. Nói thật. Người đói mà biết mình đói vì cái gì thì chịu được lâu hơn người đói mà không biết."

Đến giữa buổi thì Đào Cam xin nói lần cuối.

"Bẩm Điện hạ. Thần vẫn nghĩ phải có người họ Ngô ngồi ở Cổ Loa."

"Ta cũng nghĩ thế."

Đào Cam ngẩng phắt lên. Cái vệt sáng lúc này đã trôi khỏi mặt bàn, xuống nền, nằm vắt qua chân ghế ông ta ngồi.

"Vậy bẩm..."

"Ta nghĩ thế, và ta không làm được. Hai cái ấy ở trong một người thì được, đội trưởng. Người ta sống cả đời với hai cái ấy trong một người."

"Bẩm, nếu Điện hạ không ra, sẽ có kẻ khác ngồi."

"Sẽ có."

"Bẩm, kẻ ấy sẽ lấy danh nghĩa của Điện hạ."

"Nó không lấy được danh nghĩa của ta," Ngô Xương Xí nói. "Nó chỉ lấy cái thành. Danh nghĩa nằm ở chỗ khác, và cái chỗ ấy không có tường, nên cũng không giữ được bằng ba trăm kỵ."

Đàm Kỳ, đang cúi xuống bó thẻ tre, dừng tay.

"Đội trưởng," Ngô Xương Xí nói tiếp. "Ta hỏi ngươi một câu, ngươi trả lời rồi ta cho lui. Nếu ta đem ba trăm kỵ đi, ai giữ Bình Kiều?"

"Bẩm, còn tướng quân Trịnh Cẩn."

"Trịnh Cẩn giữ bằng hai trăm người đi được và hai trăm hai mươi người có giáo. Bên kia sông là quân của họ Dương, cách đây bốn ngày đường. Ngươi cắm cờ ở chòi bắc Cổ Loa vào ngày thứ mười hai. Ngày thứ mười sáu họ biết. Ngày thứ hai mươi họ qua sông."

"Bẩm..."

"Rồi ta ngồi ở Cổ Loa, trong một cái thành mà thóc phải chở từ Bình Kiều tới, và Bình Kiều thì không còn là của ta nữa." Ông nói câu ấy chậm, từng chữ một, không cao giọng. "Đội trưởng. Cái cờ ngươi muốn cắm, nó không đứng bằng cán. Nó đứng bằng kho thóc dưới chân nó."

Đào Cam đứng dậy, chắp tay, lui ra. Đến cửa anh ta dừng lại nửa bước, như định nói, rồi thôi.

Ngô Xương Xí nghĩ: nó sẽ nói câu ấy với người khác, ngoài sân, trong ba ngày nữa. Và người khác sẽ nghe.

Trưa, nhà giữa trống.

Ông ngồi lại một mình ở đầu bàn phía tối. Ngoài kia nắng lên, và những vệt sáng đã đi hết chiều ngang mặt bàn, sang bên kia, rồi biến mất khỏi bàn hẳn.

Ông đưa tay đặt lên chỗ nãy giờ vệt sáng nằm.

Gỗ ở đấy ấm. Chỉ riêng ở đấy, một dải rộng chừng ba ngón tay, ấm hơn phần gỗ chung quanh, và cái ấm ấy đang nhạt đi dưới lòng bàn tay ông theo từng nhịp thở.

Ông để tay yên như thế cho đến khi không phân biệt được nữa.

Ở đầu kia mười ngày đường, có một cái ghế cũng bằng gỗ. Đã bốn ngày, hay ba ngày, cửa đông mở, ai vào cũng được. Ông tự hỏi cái ghế ấy bây giờ còn giữ hơi của ai không, và giữ được bao lâu thì hết.

CHÚ THÍCH LỊCH SỬ — CHƯƠNG 2

† Cổ Loa là thủ phủ của nhà Ngô từ khi Ngô Quyền định đô năm 939. Sau khi Ngô Xương Văn tử trận năm 965, thành này trở thành trung tâm quyền lực danh nghĩa mà thực lực không còn tương xứng.

‡ Tình trạng thuế khóa ba huyện quanh Cổ Loa và toàn bộ con số trong chương (bảy nghìn / bốn nghìn / một nghìn chín trăm thạch; định mức gánh năm đấu, ăn một thăng rưỡi mỗi ngày) là dựng lại theo bối cảnh chung của giai đoạn và theo định mức vận lương tiền hiện đại nói chung, KHÔNG phải số liệu chép trong sử. Sử liệu về hành chính cấp địa phương thời Ngô hầu như không còn. Điều có cơ sở là hiện tượng nền: dân phiêu tán, sưu dịch nặng, chính quyền trung ương mất khả năng thu thuế trước khi mất thành.

‡ Chi tiết hao hụt vận lương đường bộ (đưa đi năm phần, tới nơi còn hai) phản ánh một quy luật hậu cần tiền công nghiệp có thật và được ghi nhận ở nhiều nền quân sự cổ, nhưng con số cụ thể trong chương là dựng cho truyện.

◆ Đào Cam (đội trưởng kỵ) là nhân vật hư cấu, xuất hiện lần đầu ở chương này. Đàm Kỳ và Trịnh Cẩn là nhân vật hư cấu đã giới thiệu ở Chương 1. Toàn bộ đối thoại, nội tâm và các quyết định cấp trại trong chương là hư cấu văn học điền vào khoảng trắng sử liệu.

Hết Chương 2
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 3 →
← TrướcTiếp →