Bốn giờ sáng, ông Ba Nhơn nhóm bếp trên ghe, và con chó trên mui hắt xì.
"Mày mới ngủ dậy hay mày dị ứng?" ông hỏi nó.
Con chó nhỏ, lông vàng nhạt, một tai dựng một tai cụp, tên Bông, nghe gọi thì ngẩng đầu nhìn ông một cái rồi nằm xuống tiếp. Ông Ba không giận. Hơn bốn mươi năm trên sông, ông quen với việc người ta, nhất là chó, không thèm trả lời ông.
Than đỏ lên từ từ trong lò đất. Ông đặt nồi nước lèo lên, nồi nhôm to, ám khói đến mức không còn nhớ nó từng có màu gì. Xương heo đã chần từ chiều hôm trước, củ cải đã gọt, tôm khô, mực khô nằm trong rổ tre, mùi mặn mặn ngai ngái bắt đầu bò ra mặt nước. Ông cúi xuống, kề mũi sát miệng nồi, hít một hơi dài.
Chưa được. Còn thiếu một chút ngọt.
Ông thả vào nồi một cục đường phèn bằng đầu ngón tay, khuấy ba vòng, nếm. Sáng nay sương lạnh, nên ông nêm đậm hơn một nấc, mặn hơn một nấc, để tô nước nóng húp vào là thấy ấm tới tận bụng. Những hôm nắng gắt ông làm ngược lại. Ông đoán khách ăn không ai biết ông đổi, chỉ thấy lạ là hôm nay sao ăn dễ, và ông thích thế. Có những việc làm đúng thì không ai thấy.
"Ông Ba! Ông còn sống hông?"
Tiếng đó từ phía sau, ngay sát mạn ghe, to và khàn, như ai đang xé giấy bạc. Ông không cần quay lại cũng biết ai.
"Chưa chết. Bà đừng mừng sớm."
"Tui mừng gì ông? Tui lo tô đầu."
Ghe bà Sáu Kiều cập sát, hai mạn đụng nhau cái cộp, rung cả nồi nước lèo. Bà ngồi sau lái, hai tay chống gối, tóc bạc bới cao quá đỉnh đầu, áo bà ba màu tím nhạt đã bạc bên vai. Sáu mươi tuổi, bán cà phê, và bốn mươi năm nay luôn cập ghe sát ghe ông, dù cả một con sông rộng mênh mông.
"Bà lấn nước tui."
"Nước ông hồi nào?"
"Nước chỗ này tui đậu từ hồi bà còn ở nhà má bà."
"Hồi đó tui chưa biết ông."
"Biết rồi bà còn đậu sát hơn."
"Tại ghe ông nhỏ."
"Ghe bà lớn quá nên lấn."
"Ghe tui không lớn, ông ăn hiếp."
"Tui ăn hiếp bà? Bà đụng ghe tui mà bà nói tui ăn hiếp?"
"Tui đụng nhẹ."
"Nhẹ mà nồi tui muốn rớt."
Bà Sáu im, nhìn cái nồi, nhìn ông, rồi đưa một cái ly nhôm sang qua mạn ghe, tay run run.
"Cà phê. Tui pha dư."
Ông Ba nhận cái ly, nhấp thử. Đắng và ngọt đều tay, nóng vừa đủ. Ông nhăn mặt.
"Dở."
"Dở mà ông uống."
"Tui uống vì nó miễn phí."
"Miễn phí thì uống tới đâu chê tới đó."
"Bà làm sao biết?"
"Tui biết ông bốn mươi năm."
Ông Ba không đáp. Ông uống thêm một ngụm. Bà Sáu quay đi, giả vờ chỉnh cái bình thủy, còn ông quay mặt đi, giấu khóe miệng vào cái ly nhôm.
Năm giờ, trời chưa sáng nhưng sông đã có tiếng. Tiếng máy ghe nổ lụp bụp từ phía xa, tiếng sóng vỗ mạn, tiếng người ới nhau, tiếng thùng nhựa lăn trên sàn. Sương trắng còn nằm thấp sát mặt nước, vài chiếc đèn pin đội đầu lấp lóe trong đó như đom đóm lạc đường.
Ông Ba ra mũi ghe, nhìn quanh.
Mỗi sáng ông đếm. Không phải đếm ghe, vì trong sương, ghe nào cũng chỉ là một cái bóng. Ông đếm cây bẹo, những cây sào tre cao quá đầu người, ghe nào bán trái cây, củ quả thì treo thứ mình bán lên đầu sào cho khách nhìn từ xa. Rồi ông đếm khói, vì ghe bán đồ ăn không treo gì, chỉ có khói bếp bay lên, khói cà phê, khói bánh rán, khói hủ tiếu. Hai cách đếm cộng lại, mỗi sáng ra một con số, và con số đó là chuyện ông không nói với ai.
Sáng nay, mười hai.
Ông đếm lại. Mười hai. Ông lắc đầu, đi vào lấy sào.
Cây sào của ông dài hơn người, tre già, vàng ngả, đầu sào chẻ hai thành một cái chạc. Ông cắm nó vào cái lỗ gỗ ở mũi ghe, cột chặt bằng ba vòng dây nylon. Rồi ông lấy từ trong hộc ra một cái gói vải, mở ra, nâng lên cẩn thận.
Một cái tô thủy tinh trong suốt. Miệng loe, đáy dày, sáng nay còn hơi lạnh. Ông xỏ một sợi dây qua quai nhỏ ở thành tô, treo nó lên chạc sào, rồi treo thêm đôi đũa tre bên cạnh. Sương chạm vào thủy tinh, đọng thành những giọt.
"Ông Ba."
"Gì?"
"Cái tô sứ hôm qua đâu?"
"Bể góc."
"Bể sao?"
"Con Bông."
"Con Bông làm bể?"
"Không phải. Tui làm rớt khi chạy theo con Bông."
"Vậy sao ông đổ cho nó?"
"Nó cũng có phần."
Bà Sáu chồm người lên, ngó cây sào, nheo mắt. Ánh đèn pin từ ghe kế bên rọi qua, làm cái tô thủy tinh sáng lên một cái, như con cá bạc quẫy.
"Treo tô gì mà không giống ai."
"Giống tô."
"Tui nói không giống ai."
"Giống tô."
"Ông treo tô thủy tinh, ông biết khách thấy gì không?"
"Thấy tô."
"Thấy cái ly thủy tinh khổng lồ. Họ tưởng ông bán nước ngọt."
"Họ tưởng gì kệ họ. Tui bán hủ tiếu."
"Ông bán hủ tiếu mà treo tô thủy tinh. Bốn chục năm tui hỏi hoài: ghe nào bán hủ tiếu mà treo tô lên sào?"
"Không có ghe nào."
"Vậy sao ông treo?"
"Tui thích."
"Thích mà ông cũng cãi."
"Bà cãi trước."
Bà Sáu thở dài, ngồi xuống, lấy cái khăn lau cái ly trong tay. Bên cạnh, Bông sủa một tiếng ngắn, chắc chỉ vì mệt.
Ông Ba không giải thích. Ông chỉ nhìn cái tô một chút, thấy sương lăn xuống đáy, thấy sợi dây hơi lệch, và nghiêng cái đũa cho thẳng.
Cái điện thoại trong túi quần rung lên. Ông móc ra, nheo mắt, đưa ra xa cho đủ tầm nhìn, bấm nút nghe bằng ngón cái mập.
"Ba hả? Ba còn treo cái tô trên sào hả?"
"Còn."
"Bạn con gửi cái hình. Nó nói ghe ăn uống đâu có ai treo bẹo, nó cười quá trời."
"Cười thì cười. Cái tô treo đó mười mấy năm, nó đâu có cười lại."
"Ba!"
"Ba nói giỡn."
"Ba giỡn hoài. Con gọi coi ba còn giận vụ bữa trước không."
"Vụ nào?"
"Vụ con nói ba bán năm nay nữa thôi."
"Ba quên rồi. Bà Sáu mới đụng ghe ba một cái, ba quên sạch."
"Ba quên thiệt không?"
"Ba quên... tới hồi tối."
Đầu dây bên kia cười, một tiếng cười xa, lẫn tiếng xe cộ của thành phố. Ông cúp máy, nhét lại vào túi, rồi đứng nhìn mặt sông, ngón cái còn ấm hơi máy.
Sáu giờ, trời sáng.
Nó sáng từ phía đông, ban đầu chỉ là một vệt hồng loang trên mặt nước, rồi lan dần thành màu lòng đỏ trứng, rồi ánh bạc. Sương tan như bị ai kéo. Chợ hiện ra: ghe rải rác trên khúc sông rộng, sơn xanh đỏ vàng đã bạc, khói bếp bay lên thẳng tắp khi gió lặng. Tiếng kèn bấm của một ghe đằng xa vang lên, bíp bíp bíp, ba tiếng một.
Ông Ba kéo cái kèn của mình ra, bấm hai tiếng. Hai tiếng, vì ông thích thế. Ghe bán đồ ăn thường không có sào, chỉ có kèn và khói, và khách thương hồ chạy xuồng qua chợ nghe tiếng là biết ghe nào bán hủ tiếu, ghe nào bán bánh canh, ghe nào bán cà phê, như biết giọng người quen trong đám đông.
"Ông Ba ơi! Ba tô!"
Ba ông bạn già của ông đã tới. Họ đi xuồng nhỏ, từ khúc sông phía trên, chèo chậm, dáng ngồi như ba cái đòn gánh cong. Ông Hai Cư, ông Tám Lưới, và ông Bảy Ốc, tuổi ai cũng gần bảy mươi, ngày nào cũng tới ăn lúc sáu giờ mười lăm, không phải vì đói mà vì thói quen.
"Ông Hai ăn gì?"
"Như hôm qua."
"Hôm qua ông ăn gì?"
"Tui quên rồi."
"Tui nhớ. Ông ăn hủ tiếu khô, không giá, thêm hành phi."
"Đúng rồi."
"Ông Tám?"
"Nước. Nhiều nước. Thịt ít."
"Hành?"
"Hành nhiều."
"Ông Bảy?"
"Tui muốn đổi."
"Đổi gì?"
"Hôm nay tui ăn... như ông Hai."
"Khô hả?"
"Ừ."
"Không giá?"
"Có giá."
"Ông Hai không giá."
"Ông Hai không giá, tui có giá. Khác chỗ đó."
"Vậy ông ăn y hủ tiếu khô, có giá."
"Ừ."
"Tức là không phải như ông Hai."
"Như ông Hai chừng chín phần."
Ông Ba lầm bầm, xắn tay áo, bắt đầu xếp tô. Bà Sáu ở ghe bên cạnh bật cười khục khục, bị ông liếc, vội vàng quay đi ngó trời.
Ba ông bạn ngồi chồm hổm trên xuồng, tô trên tay, mỗi người một cách. Ông Hai ăn bằng đũa, gắp từng sợi, rất từ tốn, như thể mỗi sợi đáng được nhai riêng. Ông Tám húp nước trước, nhắm mắt, lâu, xong mới nhìn đến cọng hủ tiếu. Ông Bảy trộn đều mọi thứ lên thành một cục nâu, rồi xúc muỗng ăn như ăn cơm.
"Hôm qua mười bốn," ông Hai nói giữa hai đũa.
"Mười bốn ghe?"
"Ừ. Tui đếm từ cầu."
"Tui đếm mười ba," ông Tám nói.
"Ông đếm thiếu."
"Ông đếm dư."
"Hôm nay mấy?" ông Bảy hỏi.
Không ai đáp. Ba cái tô trên tay họ bốc khói, chậm rãi. Ông Ba đứng bên bếp, múc nước lèo cho tô thứ tư, không ngẩng đầu.
"Ông Ba, hôm nay mấy ghe?" ông Bảy hỏi lần nữa.
"Ăn đi."
"Tui hỏi thôi."
"Ăn đi, nguội."
Ông Bảy nhún vai, xúc muỗng. Ông Hai nhìn ông Ba một cái rất ngắn, rồi cúi xuống ăn tiếp. Họ không nhắc thêm con số. Ăn xong họ ngồi lại trên xuồng, nhẩn nha.
Bảy giờ, nắng lên, chợ nhộn lên thêm một chút. Một chiếc xuồng máy chở khách ghé sát ghe ông Ba, rồi hai chiếc nữa. Khách ngoại quốc, nói tiếng ông không hiểu, đội nón lá mua ở bến, áo ba lỗ hoa, mặt đỏ vì nắng, tay cầm điện thoại giơ cao như cầm đuốc. Một cô gái người Việt đi cùng, trẻ, tóc buộc đuôi ngựa, áo thun trắng in hình con voi, tay xách cái gậy dài kẹp điện thoại.
"Chú ơi!" cô gọi, ngả người qua mạn xuồng. "Chú cho em quay chú được không ạ?"
"Quay gì?"
"Quay chú nấu hủ tiếu. Em làm video cho kênh em."
"Chụp thì chụp, đừng đứng chỗ nồi."
"Dạ, em đứng đây được không ạ?"
"Chỗ đó được."
"Chú nấu như mọi hôm nha chú, đừng để ý em."
"Tôi nấu như mọi hôm."
Cô gái giơ cây gậy lên. Ông Ba múc một vá nước lèo, đổ vào tô, rắc hành, chan xuống, đôi tay thành thạo đến mức chính ông cũng thôi nhìn. Mấy người khách ngoại quốc ồ lên, rồi cười, rồi xì xồ cái gì đó.
"Chú ơi, em hỏi chú chút được không ạ?"
"Hỏi."
"Chú làm nghề này lâu chưa?"
"Bốn chục năm hơn."
"Nghề truyền thống đúng không chú?"
Ông Ba ngẩng lên, nhìn cô, nhìn cái gậy điện thoại, rồi nhìn xuống nồi.
"Cô ăn tô nhỏ hay tô lớn?"
"Dạ... em hỏi chú về nghề truyền thống..."
"Tô nhỏ hay tô lớn?"
"Dạ... nhỏ?"
"Có giá không?"
"Dạ có."
"Hành phi?"
"Dạ có."
"Ngồi đó đi."
Cô gái ngồi xuống thùng nhựa, tay vẫn giơ gậy. Ông Ba bưng một tô nhỏ ra, đặt xuống tấm ván trước mặt cô, kèm đôi đũa và cái muỗng. Cô nhìn tô, hít hơi, rồi gắp lên.
Cô ăn một muỗng nước lèo. Hai mắt cô mở lớn.
"Trời ơi, ngon quá chú ơi!"
"Đừng khen. Ăn đi."
"Em nói thật mà! Nước lèo ngọt kiểu... kiểu..."
"Kiểu nước lèo."
"Dạ nhưng mà, ngọt mà thanh, kiểu này em chưa ăn ở..."
"Cô ăn đi, nguội thì dở."
"Dạ nhưng em quay..."
"Cô quay xong, tô cũng nguội xong."
Cô gái ngừng, ngẩng lên nhìn ông, rồi cười ngặt nghẽo. Nụ cười thật, không phải cười để quay. Cô hạ cây gậy xuống đùi, cúi đầu ăn, chăm chú.
Bà Sáu ở ghe bên cạnh chậm rãi lau cái ly, giọng nhỏ, chỉ đủ ông nghe:
"Ông có biết ông vừa đuổi một cái video năm mươi nghìn người coi không?"
"Tui không biết."
"Giờ ông biết."
"Biết rồi thì sao?"
"Thì ông là nghệ sĩ."
"Nghệ sĩ không nấu hủ tiếu."
"Nghệ sĩ nào cũng phải ăn."
Ông Ba lầm bầm, quay đi. Bà Sáu cười khúc khích một mình.
Giữa buổi, nắng lên cao, khói bếp mỏng dần. Mấy chiếc xuồng khách ghé rồi đi, ghé rồi đi. Cô gái làm video ăn xong thì ngồi lì thêm mười phút, nói chuyện với bà Sáu về cà phê, rồi chụp hình hai ghe sát nhau, và nói gì đó với bà Sáu mà bà gật gù. Ông Ba nghe loáng thoáng "đáng yêu", ông không quan tâm.
Một cái lá bàng khô rơi xuống, xoay tròn nhè nhẹ trên mặt nước ngay mạn ghe.
Bông, vốn đang ngủ trên mui, ngẩng phắt đầu dậy.
"Bông," ông Ba nói. "Đừng."
Con chó không nghe. Nó nhún chân, nhảy xuống nước, tõm một tiếng, bắn nước lên mặt cô gái làm video.
"Á!"
"Bông! Quay lại đây!"
Con chó không quay lại. Nó bơi, hai chân trước quạt nước rất nhanh, cái đầu nhỏ nhô khỏi mặt sông như quả dừa lùn. Cái lá trôi đi trước nó, lúc xa, lúc gần. Nó đuổi theo, vòng quanh ghe, rồi vòng quanh ghe lần nữa, tai cụp bay phập phồng.
Mọi người cười. Cô gái giơ điện thoại lên quay. Ba ông bạn già, ngồi trên xuồng, đồng loạt ngẩng đầu. Một ông khách nước ngoài vỗ tay.
"Bông! Bông!" ông Ba gọi, nửa giận, nửa lo.
Nó bơi một vòng nữa, rồi mới chịu quay lại, ngoi lên mạn ghe, run người, hất nước tung tóe lên sàn. Ông Ba chộp lấy nó, bọc nó bằng cái khăn.
"Mày muốn tao chết vì mày hả?"
Bông liếm tay ông.
"Nó đi kiếm đồ trang trí cho ghe ông đó," bà Sáu nói, hai tay chống hông, giọng chắc nịch.
"Đồ gì?"
"Cái lá bàng. Ghe ông trơ quá, có mỗi cái tô."
"Ghe tui có cái tô là đủ."
"Cái tô thì ai coi."
"Bà coi."
"Tui coi vì nó lệch."
"Nó lệch hồi nào?"
"Hồi ông nghe điện thoại."
"Bà nói thật không?"
"Tui nói thật. Chó ông còn biết, ông không biết."
"Chó tui biết cái gì?"
"Biết ghe ông thiếu cái gì thì đi kiếm."
"Nó kiếm được cái gì?"
"Thì chưa được. Mà nó có ý."
Ông Ba ngồi xổm, lau chân cho con chó. Ông không cãi nữa. Lau xong, ông ngước lên cây sào, nheo mắt nhìn cái tô một lúc lâu, rồi đứng dậy, kéo sợi dây cho nó thẳng thêm một chút.
Chợ vãn từ chín giờ.
Từng chiếc ghe một nhổ sào, đề máy, quay đầu. Khói bếp lần lượt tắt. Những cây bẹo nghiêng theo gió, treo trái dưa, củ khoai, trái thơm, đi ngược về phía bến. Ông Ba đứng ở mũi ghe đếm. Ông đếm bằng mắt, bằng khói còn sót lại, bằng tiếng máy xa dần.
Mười hai.
Vẫn mười hai. Không phải mười một, không phải mười ba. Ông đếm tới đó rồi thôi, không đếm những chiếc đã đi.
Ông tắt bếp. Dập than, đậy nồi, gom tô lên rổ. Bông nằm trên mui, lông đã khô, vẫn còn run nhẹ. Ông rửa tô một cái một, mỗi tô lật úp lên mạn ghe cho ráo.
"Trưa nay hai thằng mình ăn cá kho," ông nói với con chó trên mui.
Bông ngáp.
"Mày chê?"
Bông nhắm mắt.
"Chê thì nhịn."
Chỉ cái tô thủy tinh vẫn treo trên đầu sào, ông chưa hạ xuống.
Bà Sáu đã dọn gần xong. Bà tháo dây khỏi cọc, cuộn lại, vỗ tay phủi bụi. Rồi bà ngẩng đầu, nhìn lên cây sào, nhìn cái tô, mắt nheo lại.
"Ông Ba."
"Gì nữa?"
"Sao hôm nay ông treo tô thủy tinh?"
"Tui nói rồi. Tô sứ bể góc."
"Ông còn mấy cái tô sứ khác."
"Cái đó là..."
Ông ngừng. Con sông phía dưới chân ông chảy đều, nâu và ấm. Tiếng máy ghe cuối cùng xa dần phía thượng nguồn, mỏng như sợi chỉ.
Ông không đáp.
Bà Sáu nhìn ông chờ. Rồi bà không chờ nữa. Bà quay đi, đẩy ghe mình ra khỏi mạn ghe ông, một khoảng nhỏ, đủ để máy nổ mà không quẹt vào nhau. Bà đứng sau lái, tay đặt lên cần số, dừng lại.
"Mai ông nhớ chừa cho tui tô đầu."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 23 →