Bốn giờ chiều, Anan trải chiếc chiếu cuối cùng của hàng thứ ba mươi mốt, đứng lên, bóp lưng, và đếm lại bằng mắt từ đầu bãi tới cuối bãi, như người đếm vịt.
Bốn trăm chiếu cói, mỗi chiếc một con số sơn trắng ở góc, kẻ thành những hàng thẳng từ mép bờ lên tới con đê, cách nhau một sải tay. Bãi ven sông này anh mướn của một người bà con, mỗi năm đúng một đêm, và mỗi năm đều trả thiếu một nửa trước hạn. Phía sau là một trăm cái ghế nhựa xếp hai hàng, chân ghế lún xuống cát đã được người ta nện từ sáng. Mặt sông phía dưới còn xanh nhợt, chưa có gì trên đó ngoài mấy cái thuyền nhỏ neo dọc bờ bên kia, và ánh nắng đang nghiêng xuống từng chút.
"Hàng đầu cho ai?" Ek hỏi.
Ek là thanh niên cao hơn, tay chân dài, cầm chồng ghế như cầm hai cuốn từ điển. Tong đứng cạnh, lùn hơn, béo hơn, đang nhai kẹo cao su với vẻ mặt rất tập trung.
"Hàng đầu cho người trả trước," Anan nói.
"Ai trả trước?"
"Chưa ai."
"Vậy hàng đầu cho ai?"
"Cho người đến trước và biết trả."
"Nếu họ đến trước mà không trả?"
"Thì họ đứng."
"Đứng được không?"
"Đứng được. Nhưng đứng thì không phải chỗ ngồi tốt."
Tong ngừng nhai. "Anh Anan, em không hiểu."
"Em không cần hiểu. Em cần giữ hàng đầu." Anan chỉ tay lên đê. "Ek, em đứng bên này, giao ghế. Tong, em đứng đầu bãi, thu tiền. Không ai ngồi hàng đầu nếu chưa trả. Không ai ngồi hàng hai nếu chưa trả. Không ai ngồi hàng ba..."
"Chưa trả cũng không ngồi," Tong nói.
"Đúng."
"Đó là hết luật hả?"
"Còn một luật nữa. Ai hỏi giờ, nói là chưa biết."
"Tụi em biết đâu mà nói."
"Vậy thì không nói dối."
Ek cười một tiếng khẽ. Tong nhai kẹo lại.
Bà Lek tới lúc gần năm giờ, đẩy cái xe nướng nhỏ, than đã đỏ sẵn, mùi mỡ và tỏi đã bay trước bà cả chục bước. Bà cắm chiếc dù màu cam cạnh bàn gấp của Anan, như mọi năm, rồi mở nắp xe.
"Anan."
"Bà Lek."
"Năm nay mày xếp chiếu nhiều hơn năm ngoái."
"Năm ngoái con xếp thiếu."
"Thiếu hay không có người ngồi?"
"Thiếu."
"Mày xếp thêm chỗ, mày mất chỗ bán nem của tao."
"Chỗ bà lấy ở đâu cũng được. Người ta ngồi thì phải ăn."
"Người ta tin thì không ăn, người ta nhịn. Người ta không tin thì ăn nhiều."
Anan nghĩ một chút. "Vậy bà xếp hàng cho người không tin."
"Tao xếp theo người đói." Bà Lek lật xiên nem đầu tiên trên vỉ. "Tin hay không thì cũng đói."
Anh cười, không đáp. Mùi nem lan ra bãi, bò theo gió lên con đê, và Anan thấy bụng mình kêu một tiếng, rất khẽ, nhưng Tong đã nghe thấy và quay đi, giả vờ nhìn chỗ khác.
Chú Thawee ghé qua ngay sau đó, không báo trước, tay chắp sau lưng, đứng ở đầu bãi nhìn hàng chiếu như ông chủ nhìn lúa.
"Mày xếp đủ chưa?"
"Đủ rồi, chú."
"Mày đủ tiền chưa?"
"Chưa."
"Chưa là mấy giờ đủ?"
"Là trước nửa đêm."
"Nửa đêm tao không ở đây."
"Dạ, chú cứ ngủ. Con gửi sáng mai."
"Sáng mai là mày hết đợi tao rồi." Chú Thawee xoay người, nhìn mặt sông, rồi cằn nhằn nhỏ: "Năm nay mà ít người, mày đừng có đổ cho rắn."
"Con đổ cho trời."
"Trời không đòi nợ mày."
"Dạ, chú đòi."
Chú Thawee khịt mũi, đi mất. Anan nhìn theo cái lưng gầy, rồi nhìn xuống sổ.
Khách đầu tiên đến từ lúc nắng còn vàng, một đoàn gia đình sáu bảy người, ba thế hệ, đi sát nhau thành một cụm. Bà cụ đội khăn trắng, dắt hai đứa nhỏ. Người đàn ông trung niên xách giỏ cơm nếp. Người đàn bà xách một mâm hoa trắng đã bó lá chuối, đi chậm, tay giữ mâm như giữ một đứa bé.
"Cho hỏi, chỗ nào gần nước nhất?" người đàn ông hỏi.
"Hàng đầu," Anan nói. "Mép bờ, cách nước chừng mười bước chân. Có chiếu, có ghế cho bà."
"Có chỗ để hoa không?"
"Có. Chỗ kia, sát bờ, người ta hay đặt."
"Có ai đặt rồi không?"
"Chưa."
"Vậy đặt được." Người đàn bà gật, nhìn mặt sông, rồi nhìn người đàn ông. Họ chẳng nói với nhau, nhưng cả nhà tự động đi về phía hàng đầu, bà cụ dắt cháu đi trước, và Tong chạy theo giao ghế.
Khách thứ hai đến sau đó nửa giờ, một nhóm trẻ chừng năm sáu người, tóc nhuộm, đeo máy ảnh lủng lẳng trên ngực, mang theo hai cái chân máy dài. Cô gái dẫn đầu đẩy kính lên trán.
"Anh ơi, chỗ nào có góc đẹp?"
"Góc nào?"
"Góc có sông, có trời, có... không khí ấy."
Anan nhìn cô một giây. "Chỗ kia," anh nói, chỉ sang bên phải, hàng thứ mười, gần cái cột điện. "Thấy cái cột không? Đứng chếch bên cột. Mặt sông mở ra rộng."
"Có người chắn không?"
"Giờ thì không. Chín giờ tối thì tùy."
"Tùy gì?"
"Tùy người ta."
Cô gái cười, quay lại gật đầu với đồng bọn. Họ kéo nhau đi. Tong lại gần, nhai kẹo.
"Anh, chỗ cái cột có góc đẹp thật không?"
"Không."
"Vậy sao chỉ?"
"Vì nó cách chỗ gia đình kia xa nhất."
"Anh chọn khách theo chỗ?"
"Anh chọn chỗ theo khách." Anan sửa lại vạt áo. "Chỗ này nhìn rõ nhất. Chỗ kia thì nhìn rõ nhất theo người khác. Em nhớ câu đó, có ngày dùng."
Có người không vào bãi, mà trải chiếu riêng của họ trên đê, cách hàng cuối chừng ba bước chân. Một cặp vợ chồng già, mỗi người mang theo ghế xếp, bình trà, một cái đèn pin to. Anan đi qua, gật đầu, họ gật lại. Chiếu nhà thì cứ để họ trải, anh chưa bao giờ tranh. Anh chỉ ghi vào góc sổ: một chỗ ngồi tốt, không ai phải mua.
Một đứa bé trai chừng năm tuổi kéo tay áo anh khi anh đi ngang hàng thứ ba.
"Chú ơi."
"Gì?"
"Rắn có mệt không?"
"Rắn nào?"
"Con rắn phun lửa. Nó có mệt không? Nó phải phun cho nhiều người coi."
Anan ngồi xổm xuống cho ngang tầm. "Chú không biết."
"Chú không hỏi nó hả?"
"Chú chưa gặp nó."
"Vậy sao chú bán chỗ coi nó?"
"Vì chú gặp người muốn coi."
Thằng bé nghĩ. "Vậy chú coi rắn chưa?"
"Chưa."
"Chú không muốn hả?"
"Chú muốn." Anan đứng dậy, phủi gối. "Nhưng chú phải đi kiếm tiền để lần sau chú mua một chỗ ngồi."
"Chú không có chỗ hả?"
"Chú có cái chiếu. Chiếu chú bán hết rồi."
Thằng bé gật như thể câu ấy rất hợp lý, rồi chạy về với mẹ. Anan đứng một chút, rồi đi tiếp.
Trời xẩm tối thì bãi đã đầy một nửa.
Đèn pin, đèn điện thoại, mấy cái đèn dầu của người già, nhấp nháy khắp con đê như một bầy đom đóm bị dồn vào một chỗ. Người ngồi trên chiếu, người ngồi ghế, người đứng sát mép bờ ngó chăm chăm. Tiếng nói chen nhau, tiếng cười, tiếng trẻ con hỏi bao giờ thì có, tiếng người lớn đáp chưa, đợi đi.
Anan đi dọc hàng thứ năm, thứ sáu, cầm cuốn sổ bìa cứng, hai cột "đã trả" và "chưa". Cột "chưa" ngắn, gần như trống. Cột "đã trả" kín chữ. Cột thứ ba anh tự kẻ thêm bằng thước, tiêu đề viết nhỏ: "người hỏi giờ". Cột này dài nhất.
"Anh ơi, mấy giờ có?"
"Tôi chưa biết."
"Năm ngoái mấy giờ?"
"Năm ngoái tôi mải đếm tiền."
"Anh bán chỗ ngồi mà không biết giờ?"
"Tôi bán chỗ ngồi. Giờ là chuyện của rắn."
Người ta cười. Anan gạch thêm một vạch vào cột thứ ba.
Đến hàng thứ tám, anh nghe tiếng cãi.
Tiếng cãi không lớn. Đó là loại cãi của hai người đã nói chuyện với nhau từ lâu, giọng đều, kiên nhẫn, mỗi người chờ người kia dừng để nói tiếp. Ông già ngồi chiếu bên trái, bảy mươi tuổi, đội nón cói, tay cầm một chuỗi hạt gỗ. Người ngồi bên phải là một thanh niên chừng hai mươi lăm, áo sơ mi xắn tay, laptop mở trên đầu gối.
Anan đi ngang, chỉ nghe được mấy chữ rời giữa tiếng người hai bên: "khí", "bùn dưới đáy", rồi giọng ông già, chậm, "ông nội tôi". Năm nào hàng thứ tám cũng có một cặp như vậy, và năm nào cũng không ai thắng. Anh không nghe cho hết. Anh chỉ đứng sau lưng họ, ngón tay giữa trang sổ, chờ chỗ ngắt để hỏi tiền, và thấy cả hai cùng cúi xuống lấy từ một túi lá chuối đặt giữa hai chiếu: một nắm cơm nếp, nặn nhỏ, chấm muối ớt.
"Hai ông đều ăn chung một suất," Anan nói.
Cả hai ngẩng lên.
"Tôi mua của bà Lek," ông già nói.
"Tôi cũng mua," thanh niên nói.
"Hai người mua một suất."
"Không phải. Tôi mua suất của tôi."
"Tôi cũng suất của tôi."
"Vậy sao hai người lấy cùng cái túi?"
Ông già nhìn xuống túi nếp. Thanh niên nhìn xuống túi nếp. Rồi họ cùng nhìn lên, rồi quay đi, nhìn ra sông, mặt hơi đỏ. Anan hắng giọng.
"Tôi xin tính thêm."
"Tính gì?" ông già hỏi.
"Hai ông ngồi cãi, chiếu của tôi bị mòn hai lần. Một lần mông, một lần miệng."
"Miệng đâu có mòn chiếu."
"Có chứ ông. Miệng cãi thì mông xê dịch."
Thanh niên bật cười trước. Ông già cười sau, hai vai rung, chuỗi hạt gỗ kêu lách cách. Cả hai đưa tiền. Anan ghi vào hàng chiếu thứ tám, cạnh chữ "đã trả", thêm hai chữ nhỏ: chỗ ngồi để cãi.
"Nhận tiền rồi mà, ông," anh nói, khi ông già còn lục túi. "Đủ rồi."
Gần mười một giờ Tong chạy lại bàn gấp, thở dốc, ghé sát tai anh.
"Anh Anan."
"Gì?"
"Nếu không có thì sao?"
"Không có gì?"
"Không có... quả. Họ đòi lại tiền không?"
"Họ mua chỗ ngồi."
"Họ mua để coi."
"Họ mua chỗ ngồi để coi. Ngồi thì có ngồi."
"Nhưng nếu không thấy gì?"
"Em có bao giờ mua vé xem đá bóng, hai đội hòa không bàn thắng chưa?"
"Rồi."
"Em có đòi tiền lại không?"
"Em chửi."
"Họ cũng chửi. Chửi miễn phí." Anan vỗ vai cậu. "Đi ra đầu bãi. Có ai hỏi giờ thì nói chưa biết."
Tong chạy đi. Anan nhìn theo, và trong ngực có một cái gì thít nhẹ, như sợi dây thun quấn lên cổ tay. Chỗ ngồi thì anh bán, anh nhắc lại với mình, chỉ chỗ ngồi, không bán gì khác.
Mười một giờ, bãi nín thở.
Anan không thấy hết, vì lúc đó anh ngồi sau cái bàn gấp, hai đầu gối co lên, và cúi đầu xuống một tấm bìa các tông để đếm tiền cho khuất. Cái bàn che phía trước, cái dù cam che phía trên, và bà Lek ngồi bên cạnh tự nhiên như bà ngồi đó hai mươi năm.
Phía trên đầu anh, hàng nghìn người ngồi hướng mặt ra sông, và tiếng thở họ vang lên thành một âm thanh lạ, như tiếng gió trong cái ống rỗng.
Anan đếm. Tờ nhỏ ở trước, tờ lớn ở sau, mỗi chục tờ cuốn một vòng dây thun. Anh đếm bằng ngón cái, nhìn chữ viết trong sổ, so từng cột. Khi đếm đến cuộn thứ tư, một tiếng reo vang lên xa phía bên phải, hàng thứ hai mươi, hay thứ ba mươi, gần con đê.
Cả bãi im.
Anan ngẩng đầu một thoáng. Không thấy gì. Mặt sông đen, vẫn đen, chỉ có vài đốm đèn thuyền xa xa phản chiếu thành đường mảnh. Tiếng reo tắt dần. Phía bên trái, ai đó nói:
"Có."
"Có gì?"
"Có kìa."
"Đâu?"
"Mới tắt."
"Không," một giọng khác nói. "Đó là đèn thuyền."
"Có."
"Không."
"Anh có thấy không?"
"Tôi thấy cái gì đó."
"Cái gì?"
"Cái gì đó."
Anan cúi đầu xuống. Anh đếm tiếp: cuộn thứ năm, cuộn thứ sáu. Chiếc đồng hồ nhỏ trên cổ tay anh chỉ gần nửa đêm, và tay anh dính mồ hôi, làm tờ tiền ẩm.
"Mày không coi hả?" bà Lek hỏi, không quay sang.
"Con đếm."
"Mày đếm cái gì?"
"Con đếm tiền."
"Năm nào mày cũng đếm tiền."
"Năm nào cũng có tiền để đếm."
"Mày có con gái ở nhà."
"Dạ."
"Nó đã coi chưa?"
"Chưa."
"Năm nay không đưa nó đi?"
"Nó sáu tuổi. Nó ngủ lúc tám giờ."
"Năm sau tao nói con tao đón nó."
"Dạ, năm sau."
Bà Lek gật. Bà lấy một xiên nem lạnh từ vỉ, đưa cho anh. Anh nhận, cắn một miếng, nhai, và nghe tiếng reo thứ hai ở rất xa, bên phải, thấp hơn, như tiếng người gọi nhau qua thung lũng. Bãi lại im, lại thở. Anh không ngẩng.
Hai giờ sáng, bãi vỡ.
Bãi vỡ từng mảng. Người ta đứng lên, vỗ quần, bế con ngủ gục trên vai, đi dần về phía đê. Gia đình đầu tiên để lại cơm nếp và hoa sát bờ, chắp tay, đi mà không ngoảnh lại. Nhóm trẻ mang máy quay đi sau cùng, chân máy vác trên vai, nói chuyện bằng giọng của những người chưa quyết định mình đã thấy gì.
Anan, Ek, Tong đi dọc các hàng, gom chiếu.
Bãi bẩn. Vỏ chai, giấy gói, lõi bắp, một chiếc dép trẻ con, bốn cái ly nhựa dẫm bẹp, một chiếc kính. Anan nhặt chiếc kính lên, lau vào áo, đặt lên bàn gấp. Tong nhặt dép, cho vào túi, lẩm bẩm điều gì không nghe rõ.
"Mấy chiếu rồi?" Anan hỏi.
"Em đếm ra ba trăm chín mươi tám," Ek nói.
"Em ra ba trăm chín mươi chín," Tong nói.
"Em đếm cả cái ghế hả?"
"Em đếm cả cái dù."
"Dù đó của bà Lek."
"Em nghĩ của mình."
"Thôi, để anh."
Anan đếm từ đầu. Chiếu cuốn thành từng cuộn, dựng thành hàng dọc bờ. Anh đếm hai lần, lần thứ hai bằng miệng, đọc từng con số sơn ở góc. Bốn trăm trừ hai. Số sáu mươi và số hai trăm mười bảy không còn.
"Thiếu hai."
"Đứa nào lấy rồi," Tong nói.
"Hay bị trôi," Ek nói.
"Chiếu mà trôi?"
Anan nhìn mặt sông. "Hai chiếu thôi. Cứ để vậy."
Họ thu xong lúc gần ba giờ. Ek và Tong chất chiếu lên xe ba gác, chừa lại vài cuộn cuối cạnh bàn. Bà Lek đã đi từ lâu, để lại một vết than đen trên cát và cái dù cam đã gấp, dựa vào bàn gấp.
"Anh về chưa?" Tong hỏi.
"Em về trước. Anh ở lại gấp nốt."
"Còn gì?"
"Chiếu số chín mươi mốt rách một góc, anh khâu."
"Sáng mai khâu cũng được."
"Sáng mai nó ướt."
"Chiếu nào cũng ướt."
"Chiếu đó rách."
Hai người nhìn anh, rồi nhìn nhau, rồi kéo xe đi. Tiếng bánh xe nghiến lên sỏi nhỏ dần.
Anan còn lại một mình ở mép nước.
Anh ngồi xổm trên cát, cái bàn gấp đã dựng sát chân, cái chiếu thứ chín mươi mốt trải trên đầu gối. Một góc nó rách, chừng bàn tay, sợi cói bung ra như răng lược. Anh lấy kim thùng từ túi áo, loại kim cong, to, luồn dây gai, khâu những mũi ngắn, đều. Gió từ sông thổi nhẹ, mang mùi bùn và mùi nến cháy từ đâu đó rất xa.
Anh đang luồn dây qua mũi kim kế tiếp thì ở khóe mắt, phía dưới bãi, chỗ lau sậy sát mép nước, có một đốm cam nhỏ nổi lên từ mặt nước.
Chậm. Không cao, không vọt. Màu cam mềm, không tỏa. Rồi nó tắt, và mặt nước tối lại như chưa có gì.
Anan kéo dây cho chặt. Anh khâu hết góc rách, cắt dây bằng răng, vuốt chiếu cho thẳng, cuộn lại, buộc dây. Anh đặt nó cạnh các cuộn khác, số chín mươi mốt quay ra ngoài.
Sương xuống.
Nó đến từ mặt sông, dày dần, bò lên bãi, phủ lên cát, lên chiếu, lên cái bàn gấp, lên vai anh. Mọi thứ trở nên lạnh và ướt. Mấy cuộn chiếu còn lại bên bàn thấm sương đến nặng trịch. Anan đứng dậy, nhấc cuộn cuối cùng, trải ra, vắt. Nước chảy ra theo từng thớ cói, nhỏ xuống cát từng giọt, đều, đủ để anh đếm.
Anh vắt xong, cuộn lại, dựng nó lên cạnh bàn.
Trên sông, sương mỏng đi. Phía đông sau con đê, một vệt nhạt hiện ra. Mặt nước đang đen, rồi xám đục, và trên đó có vài chiếc thuyền nhỏ đã nhúc nhích, người đàn ông trên thuyền cúi xuống thu lưới.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 11 →