Trọng đọc cái biên bản lần thứ ba vào đêm trước hôm đội bắt đầu đi hỏi cả xóm.

Anh đọc nó lần thứ nhất ở xã, hai tháng trước, ngồi trước mặt anh Kiệm.

Anh đọc nó lần thứ hai ở hiên tiệm bà Năm Cúc, một tuần sau, dưới cây đèn pin dựng đứng, và lần đó anh khoanh cái dòng ghi chú bằng bút chì rồi anh tẩy đi.

Lần thứ ba anh đọc nó lúc mười một giờ đêm, một mình, và anh đọc nó vì một lý do rất nhỏ: chiều nay Lệ hỏi anh một câu.

Cô hỏi: anh Trọng, cái mẫu biên bản đó ai in ra?

Anh trả lời được ngay lúc đó: mẫu in sẵn, huyện phát về xã, xã điền.

Rồi tới mười một giờ đêm anh vẫn còn nghĩ tới câu hỏi đó.

Anh trải tờ photo ra bàn.

Mẫu in sẵn, hai mặt. Chữ in đen, chữ điền tay xanh. Anh đếm: mười bốn ô.

Anh đọc từng ô một, và lần này anh không đọc cái người ta điền. Anh đọc cái người ta in.

Ô một tới ô sáu: nhân thân. Họ tên, năm sinh, giới tính, dân tộc, nơi cư trú, số căn cước.

Ô bảy: thời gian phát hiện. Ô tám: địa điểm phát hiện. Ô chín: người phát hiện. Ô mười: mô tả hiện trường. Ô mười một: nguyên nhân sơ bộ. Ô mười hai: gia đình có yêu cầu giám định pháp y hay không. Ô mười ba: bàn giao thi thể. Ô mười bốn: ghi chú.

Anh dừng ở ô mười một và ô mười bốn, và anh so hai cái đó với nhau.

Ô mười một in bốn chữ: Nguyên nhân sơ bộ.

Điền hai chữ: ngạt nước.

Dưới ô đó có một dòng chữ in nhỏ, nghiêng, mà anh đã đọc lướt qua hai lần trước:

(Ghi theo nhận định của cán bộ lập biên bản trên cơ sở khám nghiệm ban đầu.)

Ô mười bốn in hai chữ: Ghi chú.

Dưới nó cũng có một dòng in nhỏ, nghiêng:

(Ghi các thông tin khác do người có liên quan cung cấp.)

Trọng đọc cái dòng thứ hai ba lần.

Do người có liên quan cung cấp.

Anh ngồi thẳng lên.

Trong chín năm anh đã cầm hai trăm mấy cái biên bản, và anh chưa lần nào đọc mấy cái dòng in nhỏ trong ngoặc, vì mấy cái dòng đó là chữ của huyện chớ không phải chữ của vụ, và người ta không đọc chữ của huyện.

Nhưng cái dòng đó nói một chuyện, và nó nói rõ ràng.

Ô mười một là chỗ cán bộ nhận định.

Ô mười bốn là chỗ người khác nói và cán bộ chép lại.

Hai ô đó không cùng loại. Một ô là ý của người viết. Một ô là lời của người khác.

Anh lấy tờ giấy, và anh chép lại cái dòng ghi chú, nguyên văn, và anh chép nó thành hai vế tách rời:

(a) nạn nhân có sử dụng rượu bia

(b) thường xuyên qua sông vào ban đêm

Vế (b) thì cả xóm biết. Bà Sáu Hạnh nói ai ở cù lao này mà hổng biết. Chú Sang ở vựa lúa có sổ chấm công. Cái đó ai nói cũng được, và nói ra cũng chẳng nhằm nhò gì.

Vế (a) thì không ai kiểm được, không có giám định, không có mẫu máu, không có nhân chứng.

Và bây giờ anh biết một chuyện anh không biết ở hai lần đọc trước: cái vế (a) đó không phải là suy đoán của anh Kiệm.

Nó không nằm ở ô mười một. Nó nằm ở ô mười bốn.

Ô mười bốn là chỗ chép lời người khác.

Trọng ngồi rất lâu.

Anh Kiệm nói với Lệ: cái đó em ghi tại vì em phải điền cho đủ trang, cái mẫu nó có ô ghi chú, em để trống thì trên huyện người ta trả về.

Câu đó thiệt tình. Anh Kiệm hai mươi sáu tuổi, mới về xã bốn tháng, đứng giữa một cái sân đông người, cầm cái mẫu có mười bốn ô.

Anh ta phải điền ô mười bốn.

Muốn điền ô mười bốn thì phải có ai đó nói cái gì đó.

Anh ta không bịa. Anh ta không có lý do gì để bịa, và anh ta cũng không đủ ác ý để bịa ra chuyện một người chết vì say.

Anh ta chép.

Nghĩa là ở cái sân đó, sáng hôm mười lăm tháng chín, có một người mở miệng nói ra một câu, và anh cán bộ hai mươi sáu tuổi nghe được, và anh ta chép nó vô cái ô còn trống.

Trọng đứng dậy.

Anh đi ra hiên, đứng đó chừng năm phút, rồi anh vô lại.

Anh lấy một tờ giấy mới, và anh viết lên đầu tờ giấy một dòng:

AI CÓ MẶT Ở SÂN NHÀ BÀ TƯ HOÀ SÁNG 15/9 NĂM NGOÁI?

Rồi anh bắt đầu liệt kê, và anh liệt kê từ cái anh biết chắc trước.

1. Anh Kiệm — công an xã, người lập biên bản.

2. Ông Nhượng — người vớt được, làm ruộng.

3. Bà Tư Hoà — má.

4. Nguyễn Văn Thiệt — anh ruột, người ký ô mười hai.

5. Ông trưởng ấp — người viết biên nhận đào huyệt.

Anh dừng bút.

Rồi anh viết tiếp:

6. Bốn người đào huyệt (có tên trong biên nhận).

7. Không rõ — "hôm đó ở đó đông lắm" (lời anh Kiệm).

Anh ngồi nhìn bảy dòng đó.

Rồi anh khoanh tròn dòng số bảy, và anh viết bên cạnh:

Cả xóm.

Anh không dán tờ giấy đó lên vách.

Anh gấp nó làm tư và bỏ vô cặp, cạnh tờ biên bản photo, và anh làm vậy vì một chuyện anh chưa nói với ai và cũng chưa nghĩ ra chữ để nói.

Suốt sáu mươi lăm ngày, đội đi tìm một người không làm một việc.

Từ đêm nay, đội đi tìm một người đã nói một câu.

Và cái thứ hai thì Trọng không biết cách tìm, vì trong chín năm giữ giấy anh chưa gặp lần nào một cái chỗ sai mà bằng chứng của nó là bốn chữ nằm trong một cái ô mà người ta điền cho đủ trang.

Hết Chương 80
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 81 →
← TrướcTiếp →