Bằng gọi lúc mười một giờ trưa, và Trọng đang ngồi vá cái ruột xe đạp mượn của bà Năm Cúc.
Anh coi màn hình, lau tay vô quần, rồi bắt.
"Alô anh Bằng."
"Chú Trọng hả. Chú đang ở đâu đó?"
"Dạ con dưới miền Tây."
"Tỉnh nào?"
"Dạ cù lao Bảy Giáp, xã Mỹ Giáp."
Bên kia có tiếng giấy lật.
"Xa quá ha." Bằng nói. "Chú ở đó lâu chưa?"
"Hơn hai tháng."
"Hai tháng." Ông ta lại lật giấy. "Chú làm cái gì mà lâu vậy?"
"Dạ chuyện của con."
"Ừ." Bằng không hỏi thêm. "Tui hỏi chú một chuyện."
Bằng bốn mươi chín tuổi, làm ở một chỗ mà Trọng chưa bao giờ được nói rõ là chỗ nào, và Trọng gặp ông ta lần đầu ở chung cư C2 hồi năm ngoái, khi ông ta tới hỏi về một người mất tích không liên quan gì tới vụ đội đang làm.
Từ đó mỗi vài tháng ông ta gọi một lần.
Lần nào cũng vậy: hỏi một cái tên, hỏi Trọng có nghe qua chưa, cảm ơn, cúp.
"Chú có nghe tên Đặng Văn Ứng chưa?"
Trọng nhắm mắt lại, lục.
"Chưa."
"Bốn mươi mốt tuổi. Quê Đồng Tháp. Làm nghề đóng đáy."
"Chưa anh."
"Ổng mất tích tháng ba năm nay. Đi khỏi nhà lúc ba giờ sáng, không ai thấy nữa." Bằng nói. "Xuồng còn cột ở nhà. Đồ đạc còn nguyên. Không có tiền nong gì, không nợ ai."
Trọng ngừng tay.
"Anh Bằng."
"Ừ."
"Anh nói ba giờ sáng."
"Ừ. Sao?"
Trọng ngồi im hai giây.
"Không có gì anh." Anh nói. "Ở dưới này ai đi làm cũng ba giờ sáng."
"Ừ." Bằng nói. "Cái đó tui biết."
"Có gia đình báo hôn anh?"
"Có. Vợ ổng báo sau ba ngày." Bằng nói. "Xã ghi nhận. Rồi thôi."
"Rồi thôi là sao anh?"
"Là hồ sơ nằm đó." Ông ta nói bình thường, không có gì trong giọng. "Chú Trọng, một năm ở miền Tây có mấy trăm người bỏ nhà đi. Đi Bình Dương, đi Sài Gòn, đi lấy chồng Đài Loan, đi trốn nợ. Xã không có người đi tìm."
"Vậy sao anh đi tìm?"
Bên kia im một chút.
"Tại tui rảnh," Bằng nói.
Trọng không hỏi thêm. Bốn lần gọi trong một năm rưỡi, và lần nào tới chỗ đó ông ta cũng nói một câu như vậy, và Trọng đã thôi không hỏi từ lần thứ hai.
"Con ghi lại tên đó," anh nói. "Có gì con báo anh."
"Ừ. Cảm ơn chú."
"Anh Bằng."
"Ừ."
"Người ta không nhớ mặt ổng phải hôn?"
Bên kia im lâu hơn.
"Sao chú hỏi vậy?"
"Con hỏi cho biết."
"Ừ." Bằng nói. "Người ta nhớ. Vợ ổng có hình."
"Dạ."
"Mà chú Trọng nè."
"Dạ."
"Hồi tui đi hỏi ở xã, có bốn người nói với tui là tui thấy ổng bữa đó." Bằng nói. "Bốn người, bốn cái giờ khác nhau, cách nhau tới sáu tiếng đồng hồ."
"Rồi sao anh?"
"Rồi tui hỏi lại từng người. Ba người nói lại là chắc tui nhớ lộn." Ông ta nói. "Người thứ tư thì nói ủa tui có nói vậy hả chú."
Trọng ngồi im.
"Anh có gặp cái đó nhiều hôn anh?" anh hỏi.
"Có." Bằng nói. "Mà cái đó thì thường mà chú. Người ta nhớ lộn hoài."
"Dạ."
"Thôi tui cúp nghen chú. Chú làm việc."
Cúp.
Trước khi cúp, Trọng hỏi một câu nữa, và anh hỏi nó vì nó vừa nảy ra trong đầu chớ không phải vì anh tính trước.
"Anh Bằng, ổng có ai chở qua sông hôn?"
"Chú nói gì?"
"Ổng đi lúc ba giờ sáng. Nhà ổng ở đâu, có sông không?"
"Có. Ở cồn." Bằng lật giấy. "Cồn Bà Sáu, xã Tân Hoà."
"Cồn đó có cầu chưa anh?"
Bên kia dừng lại.
"Cái đó tui không có ghi," Bằng nói. "Sao chú hỏi?"
"Con hỏi cho biết."
"Ừ." Ông ta ghi cái gì đó, Trọng nghe tiếng bút. "Để tui coi lại."
Cuộc gọi hết hai phút mười giây.
Trọng để điện thoại xuống, và anh vá nốt cái ruột xe, và anh vá xong thì anh lấy cuốn sổ ra.
Anh mở tới trang cuối, cái trang anh không dùng để ghi chuyến, và anh ghi ba dòng.
Bằng gọi. Đặng Văn Ứng, 41, Đồng Tháp, đóng đáy. Mất tích tháng 3. Đi lúc 3g sáng. Xuồng còn, đồ còn, không nợ.
4 người khai thấy ổng bữa đó, 4 giờ khác nhau cách 6 tiếng. 3 người rút lại. 1 người không nhớ mình đã nói.
Chưa liên quan.
Anh gạch dưới hai chữ cuối.
Rồi anh nhìn lại cái trang đó.
Trang này có bảy dòng, ghi trong một năm rưỡi. Bảy cái tên, bảy người mất tích ở bảy tỉnh, và dưới mỗi cái đều có hai chữ chưa liên quan.
Anh đếm.
Bảy người trong mười tám tháng.
Anh ngồi nhìn con số đó một chút, và anh không thấy nó nói lên cái gì hết, vì bảy người mất tích ở bảy tỉnh trong mười tám tháng thì ít hơn cái xóm này mất người đi Bình Dương.
Anh gấp sổ.
Rồi anh mở lại, và anh ghi thêm một dòng nữa ở dưới cùng, dòng anh ghi cho chính anh, và anh không biết ghi để làm gì:
Ba giờ sáng, cái thứ tư.
Buổi chiều anh lấy cuốn sổ ra lần nữa, và anh làm một việc mất bốn mươi phút.
Anh lật lại bảy dòng đó, và với mỗi dòng anh ghi thêm một cột.
Cột đó là: nơi đó có đang bị xáo trộn gì không.
Anh không nghĩ ra chữ nào gọn hơn, và anh biết chữ đó lỏng lẻo, và anh vẫn ghi.
Người thứ nhất, Bến Tre, tháng tư năm ngoái: xã đó đang dời chợ. Người thứ hai, Sóc Trăng, tháng bảy năm ngoái: anh không nhớ, để trống. Người thứ ba, Trà Vinh, tháng chín năm ngoái: giải toả làm đường. Người thứ tư, Hậu Giang, tháng chạp: để trống. Người thứ năm, An Giang, tháng hai năm nay: nhà máy đóng cửa. Người thứ sáu, Vĩnh Long, tháng ba: để trống. Người thứ bảy, Đồng Tháp, tháng ba: chưa biết.
Bốn cột trống trên bảy.
Anh ngồi nhìn ba cái ô có chữ.
Ba trên bảy thì không nói lên cái gì hết. Ba trên bảy có thể là ngẫu nhiên, và hơn nữa thì ở miền Tây bây giờ chỗ nào cũng đang dời cái gì đó: dời chợ, dời mồ, làm đường, đóng nhà máy, xây cầu.
Anh gấp sổ lại.
Rồi anh mở ra, tẩy cái cột vừa kẻ đi, vì kẻ một cột mà bốn phần bảy để trống thì cái cột đó chỉ làm mình thấy hình thù ở chỗ không có hình thù.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 73 →