Ba giờ kém mười lăm, đêm thứ năm mươi chín, và Ngần ra bến sớm hơn giờ hẹn bốn mươi phút.

Cô ra sớm vì không ngủ được, và cô đi một mình vì ba người kia còn đang ngủ, và cô nói với mình là cô chỉ ra ngồi chớ không làm gì.

Trời không trăng. Cô cầm đèn pin nhưng không bật.

Xuống tới đầu dốc, cô ngồi xuống chỗ đất khô, hai tay ôm gối, và cô chờ mắt quen tối.

Mắt quen tối mất chừng bốn phút, và khi nó quen thì cái bến hiện ra từng phần một.

Mặt nước trước, vì nước có ánh.

Rồi hai cái cọc neo, hai chấm đen.

Rồi bốn cây cột nhà chờ, đứng trong nước tới ngang bắp chân người.

Rồi cái mái tôn.

Rồi, ở chỗ cột thứ tư, cột phía trong cùng, cột có vệt bóng ngang vai chỗ người ta hay dựa, có một người đàn ông đứng.

Ngần không nhúc nhích.

Cô ngồi yên trên con dốc đất, hai tay còn ôm gối, và cô nhìn.

Người đó đứng quay mặt vô góc.

Đó là cái đầu tiên cô ghi nhận, và cô ghi nhận nó bằng cái phần trong đầu vẫn làm việc kể cả khi phần còn lại đã ngừng: chỗ cột thứ tư là chỗ giáp giữa hai vách của nhà chờ hồi vách còn nguyên. Vách tháo rồi thì ở đó không còn góc nào hết. Chỉ còn một cây cột và khoảng không.

Người đó đứng quay mặt vô cái chỗ mà mười mấy năm trước là một cái góc.

Nước tới ngang bắp chân người đó.

Ngần chờ.

Cô chờ cái động tác.

Cô đã đứng trước hai mươi mấy cái vòng trong bốn năm, và cái đầu tiên cô làm bao giờ cũng là chờ động tác, vì động tác là thứ nói cho cô biết cô đang nhìn cái gì. Bấm nút. Lau bàn. Xỏ dép. Vắt áo. Gọi đò.

Cô đếm.

Một phút. Hai phút.

Không có gì.

Ba phút. Bốn phút.

Người đó không nhúc nhích. Không quay đầu. Không đưa tay. Vai không lên xuống theo hơi thở, và cô nhận ra cái đó ở phút thứ tư, và đó là chỗ trong ngực cô lạnh đi.

Năm phút.

Sáu phút.

Ở phút thứ sáu, ngoài kia, cách chỗ đó chừng hai chục thước, Út Thà gọi.

Ba tiếng. Dài, ngắn, dài rồi hụt. Rồi im bốn mươi giây. Cái vòng chạy đúng giờ của nó, y như bốn mươi mấy đêm nay.

Người đứng ở góc cột không phản ứng gì hết.

Ngần đứng dậy.

Cô đứng dậy chậm, và cô không biết mình đứng dậy để làm gì, và tới lúc đã đứng rồi thì cô đứng yên.

Người đó vẫn quay mặt vô góc.

Cô đi xuống ba bước, tới sát mép nước.

Từ đây cô thấy rõ hơn: người đàn ông, chừng bốn mươi mấy, tóc muối tiêu cắt ngắn, mặc áo sơ mi sáng màu bỏ trong quần tây. Không phải đồ của người ở cù lao. Không phải đồ của người ra bến lúc ba giờ sáng.

Quần dài của ông ta khô.

Ông ta đứng trong nước tới ngang bắp chân, và ống quần khô.

Ngần không gọi.

Cô đã học được từ lâu là không gọi, và cái đó thì bà Hai dặn ngay ngày đầu tiên, và bà dặn bằng đúng một câu: cái nào không lặp thì con đừng có kêu nó.

Cô đứng ở mép nước chừng nửa phút.

Rồi cô làm cái duy nhất cô làm được: cô ghi.

Cô lấy cuốn sổ trong túi áo mưa ra, và cô ghi trong tối, không nhìn giấy, chữ chồng lên nhau.

Cột 4. Đàn ông ~45. Áo sơ mi. Quay mặt vô góc. Không lặp gì hết. Sáu phút không nhúc nhích. Quần khô.

Cô ngẩng lên.

Ông ta vẫn ở đó.

Cô cúi xuống ghi thêm một dòng.

Không phải người của xóm này.

Cô ngẩng lên lần nữa.

Ông ta không còn ở đó.

Không phải ông ta đi. Ngần đứng cách chỗ đó chừng mười lăm thước, mắt đã quen tối hoàn toàn, và giữa cô với cây cột thứ tư không có gì che.

Cô cúi xuống ghi một dòng, cô ngẩng lên, và chỗ đó trống.

Cô đứng đó chừng ba phút nữa.

Rồi cô lội xuống, đi tới chỗ cột thứ tư, và cô đứng đúng cái chỗ ông ta đứng.

Nước tới ngang bắp chân cô.

Cô quay mặt vô góc, và cái cô nhìn thấy là một cây cột gỗ đã mục chân, và khoảng không, và phía sau khoảng không đó là con dốc đất chạy lên xóm.

Không có gì hết.

Ba giờ hai mươi, Trọng với Lệ với Khoa xuống tới.

"Chị ra sớm hả chị?" Lệ hỏi.

"Ừ."

"Có gì hôn chị?"

Ngần đứng dưới nước cạnh cây cột thứ tư, cuốn sổ trong tay, và cô mở miệng ra.

"Có," cô nói.

Rồi cô ngừng.

Cô ngừng vì cô đang định nói một chuyện và cô không tìm ra chuyện đó nữa.

Cô đứng đó, dưới nước ngang bắp chân, cầm cuốn sổ đang mở, và trong đầu cô có cái cảm giác rất rõ ràng của người vừa bước vô một căn phòng để lấy một món đồ.

"Chị Ngần?"

"Ừ." Cô đóng cuốn sổ lại. "Không có gì. Chị ra sớm ngồi cho mát."

Cô lội vô bờ.

Lệ đưa cô cái khăn, và Trọng bắt đầu tháo dây, và Khoa lấy đồng hồ ra, và bốn người vô việc.

Trong túi áo mưa của Ngần, cuốn sổ có hai dòng viết trong tối, chữ chồng lên nhau.

Sáng hôm sau cô mở sổ ra chép lại mấy thứ ghi đêm.

Cô chép được ba dòng thì cô tới hai dòng đó.

Cô đọc.

Chữ nghiêng ngả, chồng lên nhau, nhưng đọc được: Cột 4. Đàn ông ~45. Áo sơ mi. Quay mặt vô góc. Không lặp gì hết. Sáu phút không nhúc nhích. Quần khô. Và dưới đó: Không phải người của xóm này.

Cô ngồi nhìn hai dòng đó.

Rồi cô lật ngược lại coi ngày, coi cô ghi hôm nào.

Ghi đêm qua.

Cô ngồi thêm một chút.

Trong bốn năm làm nghề này cô đã ghi sổ trong tối không dưới hai trăm lần, và không lần nào cô ghi một thứ mà sáng ra không nhớ. Cô nhớ hết. Cô nhớ cái mùi của căn hộ 402 hai năm trước. Cô nhớ chỗ sứt trên bậc thứ hai của cái bến này.

Cô đọc lại hai dòng lần thứ ba.

Rồi cô làm cái mà một người làm nghề đọc hiện trường sẽ làm: cô coi cái ghi chép đó như một hiện trường.

Chữ viết trong tối, không nhìn giấy. Nghĩa là cô không muốn rời mắt khỏi cái cô đang nhìn.

Hai dòng, dòng thứ hai cách dòng thứ nhất một khoảng, viết sau.

Nghĩa là cô ghi, ngẩng lên, rồi ghi tiếp.

Cô lấy bút, và cô ghi thêm một dòng thứ ba, bằng chữ ban ngày, ngay ngắn:

Không nhớ đã ghi cái này. Không nhớ đã thấy cái gì.

Rồi cô gấp cuốn sổ, và cô đi ra ăn sáng, và tới trưa thì cô không nghĩ tới nó nữa.

Hết Chương 68
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 69 →
← TrướcTiếp →